Đăng ký | Đăng nhập

Email / Điện thoại

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu | Quên mật khẩu

hoi-dap
logo
gif_20210514_210516_1
videotogif_2021.05.14_21.31.52
videotogif_2021.05.14_21.18.27
gif_20210514_210001
TRÂN QUÝ CHÀO ĐÓN QUÝ VỊ ĐỘC GIẢ ĐẾN VỚI WEBSITE CỦA NHÀ VĂN TRẦN THANH CẢNH - KÍNH CHÚC QUÝ ĐỘC GIẢ CÓ NHỮNG GIÂY PHÚT THƯ GIÃN VỚI "NGƯỜI KỂ CHUYỆN KINH BẮC"
fb_img_163796146879720210411_13045820210430_22423320210430_22423320210430_22414520210430_22415520210422_11252420210422_11253620210411_13015820210411_1302135520210411_13052820210411_13041120210411_13044720210430_22421220211031_220453box-01120211113_014855nhavantranthanhcanh20211031_22051320211113_15314020211113_15310720211113_15312320211113_01361920211113_01360720211115_00563820211115_00562220211115_00545220211115_00543920211115_00561020211118_16003120211118_16004320211118_16001820211127_155916fb_img_1637961528075fb_img_163796146879720211127_042028
fb_img_1637961528075fb_img_163796146879720211127_15591620210411_13054420210411_13024120210411_13025120211031_22051320211031_220453box-011nhavantranthanhcnh5520210411_13021320211113_15314020211113_15310720211113_15312320211113_01361920211113_01360720211115_00563820211115_00562220211115_00554220211115_00552120211115_00545220211118_16001820211118_16003120211118_16004320211115_00563820210411_13054420210411_13024120210411_13025120211127_042028
20211031_22051320210430_22553720210411_13031320210411_13023320210411_13052020210411_13055620210411_13040120210430_22555120211031_22045320210411_13021320210411_130213box-01120211113_01361920211113_15312320211113_15314020211113_01360720211115_00563820211115_00562220211115_00561020211115_00553020211115_00554220211115_00543920211115_00545220211118_16004320211118_16003120211118_160018fb_img_1637961528075fb_img_163796146879720211127_155916

LONG SƠN TỨ TRUYỆN

Hồi giữa những năm tám mươi của thế kỷ trước, lúc ấy tôi hai mươi hai tuổi. Vừa tốt nghiệp đại học.

     Nói thế cho oai, chứ thật ra tôi cũng không dám cho ai xem cái bằng “cử nhân mùa thu” cùng bảng điểm của mình. Chả là trường tôi, thường hay cho sinh viên làm khoá luận và thi tốt nghiệp vào mùa hè. Những sinh viên thi không đỗ, nhà trường sẽ tổ chức thi lại vào mùa thu. Thế cho nên ở trường tôi, mới có cái danh hiệu “cử nhân mùa thu”. Quá tệ. Bốn năm đại học, hầu như môn nào tôi cũng thi lại. Có môn thi đến lần thứ năm mới qua. Được cái các thày của trường nơi tôi học rất thương sinh viên, bảo, chúng nó thi chưa qua thì học lại, rồi dần sẽ qua, không việc gì mà phải buộc thôi học, lỡ dở cuộc đời chúng ra. Thực tế thì trường hợp của tôi chưa phải là kỷ lục. Thằng Tư Thổ, ở lớp cử tuyển K30, nó còn thi lại lần thứ tám môn Triết. Nhưng sau thằng ấy cũng tự bỏ học, về núi, vì chán quá. Tôi sẽ gặp lại nó trong một dịp thật oái oăm. Nhưng chuyện ấy nói sau…

      Hồi tôi ra trường, nước mình rất hỗn loạn. Đến nỗi trong dân gian có ca dao: “Thứ nhất là loạn quốc ca/ thứ hai loạn chữ/ thứ ba loạn tiền…”. Không biết có một ông cốp nào đó, chắc là trong lúc đi duyệt đội danh dự khi thăm nước ngoài, nghe bài quốc ca của mình tấu lên không hoành tráng bằng bài nước họ, bèn về nhà, gọi mấy ông trong hội nhạc sĩ đến bảo tổ chức sáng tác thi, làm bài quốc ca mới. Thế là dân tình suốt ngày nghe các bài hát èng èng èng…trên loa công cộng để còn góp ý và bình bầu. Khổ nỗi, dạo ấy dân tình rất đói, mọi người chỉ nghe thấy nói về gạo, mì, ngô, khoai, thì mới để ý. Còn như nhạc quốc ca thi èng èng èng trên đài, chả ai nghe. Đài phát ròng rã mấy tháng mà chả có ý kiến đóng góp bình bầu nào gửi về. Sau tự nhiên không thấy nói gì đến quốc ca thi nữa. Thông tấn xã vỉa hè Hà Nội phát, là do ông cốp ấy đột tử. Nhưng cái vụ loạn chữ thì dân tình quan tâm lắm. Bởi vì hầu như nhà nào cũng có con đi học. Mà không hiểu nước ta hồi ấy rất nghèo đói, nhà nhà lại đẻ rất khoẻ. Trung bình mỗi nhà phải từ bốn đến năm đứa trẻ. Bọn dặt dẹo nói là do đói không ngủ được, làm cái cho dễ ngủ. Xong. Có nhiều con. Lại càng đói. Lại không ngủ được. Và lại…Chuyện này tôi cứ nghĩ mãi, chắc không phải. Vì cứ suy từ mình ra thì biết, lúc đói, tôi chả nghĩ đến chuyện gì ngoài cái việc tìm kiếm chút thức ăn nhét vào cái bụng đang gào réo sôi sục của mình. Thế nhưng nhà nước hồi ấy rất quan tâm đến cái vòng luẩn quẩn đẻ- đói, đói- đẻ của dân ta. Lập hẳn một uỷ ban to đùng để hãm bớt cái sự đẻ. Lại còn cử một ông tướng lừng danh chiến trận sang cầm đầu. Ai cũng bảo, lần này thì chị em nước mình cứ gọi là tịt đường. Thế nhưng trẻ em vẫn nhiều, trường học mở không xuể. Mấy ông trên bộ giáo dục, có khi cũng là do đói, đêm không ngủ được hay sao ấy, mới nghĩ ra cái việc cải cách chữ viết. Kể từ thời cụ Alexandre de Rhodes làm ra chữ quốc ngữ, con dân nước Việt chuyển từ dùng bút lông sang bút chì, bút sắt, tuy có hơi cứng một tí, nhưng vẫn đủ để viết lên trang giấy những nét mềm mại hào hoa. Nhưng bây giờ bộ bảo, uốn lượn hào hoa là mất thời giờ, tốn mực. Bộ ra lệnh cho học sinh viết một thứ chữ mới, gọi là chữ cải cách. Chữ nào chữ nấy ngay đuồn đuỗn, cứng đơ đơ. Nhìn vào trang sách của học trò, cứ tua tủa như biển gươm rừng giáo…Còn chuyện loạn tiền, bây giờ nói cũng ít người hình dung ra. Mẹ tôi đi chợ về, ngồi bệt xuống nền nhà vừa thở vừa kể: “Chết, thế này thì loạn mất. Ai lại chợ búa chả có gì mà mua bán. Có người mang mấy đấu gạo ra bán, tranh nhau mua, cứ như cướp. Chết, chết…thế này thì sắp loạn đến nơi. Rồi thì chết đói cả lũ”. Đồng tiền mất giá như bị cướp ngày, hàng hoá mỗi hôm một giá, mà cũng không có hàng, nhưng dân cũng chả có tiền mua. Thật lạ. Đúng là loạn đến nơi. Sau đấy vài năm, lại có một ông cốp, thấy cấp dưới báo cáo lên là tiền mất giá quá, in không kịp. Ông ấy mới nảy ra một ý tưởng là, đổi tiền. Tỷ lệ một nghìn tiền cũ ăn một tiền mới. Quả là thiên tài, cấp dưới rất ngợi ca, chỉ cần một lệnh, hết ngay lạm phát. Chúng còn nói, có khi thủ trưởng đợt này ăn giải Nobel kinh tế. Ông ấy mới hỏi, giải ấy của nước nào. Cấp dưới nói Thuỵ Điển. Cốp nói, giải ấy cho hai cái liền tao cũng không thèm. Của bọn tư bản giãy chết, tao không nhận.

      Nhưng đấy là câu chuyện của quốc gia đại sự.

      Còn bấy giờ, tôi đói lắm. Tôi ra trường vào cái lúc hỗn loạn, bằng cấp lại chả ra sao nên không có việc. Phòng tổ chức trường bảo cứ đợi đi, có chỗ sẽ gọi. Hãy cứ tạm về quê. Mà quê tôi lúc đó, đang hợp tác xã, cũng rất đói. Đến ở quê cũng không có việc gì cho tôi làm. Thỉnh thoảng ra đồng đi làm hợp tác xã thay bố mẹ vài buổi, rồi thôi. Buồn kinh khủng. Buồn quá, tôi hay ra ngồi ở bến sông. Cứ ngồi, chả để làm gì, chả chờ đợi gì.

       Làng tôi bên một con sông, khá rộng.

       Xưa, theo lời các cụ nói, trên bến dưới thuyền. Bến sông làng tôi tấp nập nhất vùng. Bè gỗ, bè tre nứa lâm thổ sản xuôi về đỗ ngàn ngạt. Những chiếc thuyền gỗ to từ mạn bể với cánh buồm nâu khổng lồ cùng với những ông phu kéo thuyền ngực nở nang, da thịt đỏ au, chở mắm muối, hải sản, cá khô…bán buôn cho cả vùng. Từ ngày hợp tác xã, bến làng tôi tự nhiên cứ ít dần thuyền bè ghé vào. Rồi có lúc tự nhiên hết hẳn. Bến sông xưa bán buôn nhộn nhịp, nay chỉ còn là nơi rửa chân cho xã viên hợp tác đi làm đồng. Người lớn trong làng hay thở dài nuối tiếc, bao giờ cho đến ngày xưa…Tôi ngồi trên bến sông, nhìn những con thuyền gỗ kẽo kẹt mái chèo xuôi ngược. Thỉnh thoảng có cái xà lan của nhà nước chở hàng hoá chạy phè phè dưới sông. Những chiếc chạy xuôi dòng tạo nên những đợt sóng khá to đánh oà ập vào bờ, nước bắn lên cả chỗ tôi ngồi, nhưng tôi cũng chả để ý. Đầu tôi hình như đã bị đơ khi ngồi hàng tiếng đồng hồ liền, mông lung nhìn ra dòng nước. Có lúc tôi đã nghĩ, hay là mình nhảy đại lên một cái thuyền nào trên sông, xin chủ thuyền cho theo sống đời sông nước. Có lúc tôi lại nảy ra ý nghĩ còn rồ dại hơn, là bơi ra giữa dòng, rồi nằm ngửa, mặc kệ cho dòng trôi cuốn đi, như cánh bèo phiêu dạt đến đâu thì đến. Nhưng rồi tôi chả làm gì, vì tôi đói. Khi đói, người ta không làm gì, không nghĩ gì. Cơ thể bải hoải vì thiếu chất, đầu óc mụ mị, dường như có một đám tơ nhện giăng rít loạn xạ bên trong. Nhiều hôm, tôi ngồi trên bến sông từ nửa buổi chiều đến lúc tối mịt. Hơi nước từ dòng sông, hơi sương từ trên trời hoà trộn vào với nhau thành một màn mờ mờ hư ảo không phân biệt được ranh giới trời nước. Những lúc ấy, dưới sông rất ít thuyền qua lại. Dòng sông như một thế giới mông lung huyễn hoặc. Thỉnh thoảng mới có ánh đèn le lói của một cái thuyền cá lướt qua rồi biến mất trong sương như con thuyền ma…

      Hồi đại học, chuyên ngành tôi học là Thực vật học.

      Tôi hoàn toàn không có một chút hứng thú gì với các loại cây que lá lẩu. Tốt nghiệp cấp ba, tôi thi vào Đại học Kinh tế, bị thiếu một điểm. Tôi được chuyển sang học Thực vật bên Tổng hợp. Tôi cũng chả hiểu Thực vật học là cái gì cho đến khi vào trường. Thời bao cấp, nhà nước điều đâu thì đi đấy thôi. Đi học còn được cấp mười năm cân gạo. Mỗi nơi xà xẻo tí, về đến bát cơm sinh viên chả còn là bao. Bọn cùng phòng tôi làm vè đọc: “Cơm hai lưng bát tha hồ chén/ thịt gắp luôn tay mỗi miếng bì”. Bọn bên Văn khoa nói, đấy không gọi là vè, mà là đối. Cãi nhau ỏm củ tỏi. Chả được tích sự gì. Vẫn đói gập bụng gù người xuống. Nhiều bữa, từ nhà ăn về, vừa đi vừa băn khoăn tự hỏi, không biết mình đã ăn cơm chưa.

     Tôi không làm sao mà nhồi vào đầu mình những khái niệm như thực vật bậc cao, bậc thấp. Rồi lớp nọ lớp kia, rồi họ, ngành, hoa đồ hoa thức. Đến mô tả chi tiết từng cây từng họ thì tôi lại càng hãi. Tôi chả bao giờ nhớ nổi lá mọc đối chéo chữ thập khác với lá mọc đối thường là thế nào. Đấy là chưa nói đến mục mô tả cấu tạo vi phẫu của từng loại tế bào mô cây… Thế nên, tôi cứ trượt lên trượt xuống. Nhiều môn, có lẽ các thầy nhìn thấy tôi đi thi lại nhiều quá, chắc thương tình mà cho qua. Bọn bạn cùng phòng ký túc thấy tôi rất chăm chỉ lên thư viện học bài, thì thắc mắc, sao mày chăm đọc thế mà vẫn cứ out đều là sao? Bọn nó không biết là tôi lên đấy chỉ để đọc báo thể thao, đọc truyện và…ngắm gái. Tôi vốn mê đọc truyện và gái đẹp từ bé.

       Hồi ấy tôi mê một em bên lớp Hán Nôm.

       Nàng tên là Thu Hà. Một cái tên rất phổ biến của các cô gái thời ấy. Nàng là gái Hà Nội, nhà chỗ phố Tống Duy Tân, đằng mạn Cửa Nam. Đã vài lần, tôi mượn được cái xe đạp của thằng Hoàng Bắc Giang, bạn cùng phòng, để lẽo đẽo theo sau nàng. Đến đầu phố nhà nàng thì tôi không dám rẽ vào nữa, vì sợ bị phát hiện. Tôi đành đạp xe loanh quanh phố xá chán rồi về ký túc. Tình yêu của tôi dành cho nàng là đơn phương. Một thằng trai quê nghèo đói rách rưới đúng nghĩa thì làm sao dám với một cô gái Hà Thành, lúc nào cũng gọn gàng, xinh xắn, thơm nức và sáng bừng như thế chứ. Thế nhưng, nàng như một bông hoa toả ra một thứ hương thơm bí ẩn mà tôi không có cách gì cưỡng lại được. Chiều chiều, tôi cứ phải lên thư viện đọc một cái gì đấy, chỉ để được nhìn thấy nàng. Thu Hà không bao giờ để ý đến tôi. Đến thư viện là nàng chúi mũi vào nghiên cứu mấy quyển sách dày cộp cũ rích, bên trong toàn một thứ chữ tượng hình, vuông như cái hòm. Tôi cứ thắc mắc thầm trong bụng là, không hiểu sao, một cô tiểu thư Hà Thành xinh đẹp như vậy, mà lại mê mẩn cái thứ chữ cổ quái thế. Không biết nàng tìm được cái gì vui thú trong mớ văn tự cổ kính âm u đó. Mà nghe bọn con trai cùng khoa với nàng kháo là, nàng học rất giỏi. Còn tôi, hết báo thể thao, tôi mượn tiểu thuyết đọc. Vừa đọc, vừa thỉnh thoảng liếc nhìn nàng. Sinh viên chúng tôi vào thư viện thường không có một chỗ cố định nào. Tôi thì cố gắng để luôn ngồi cách Thu Hà một khoảng vừa đủ. Không gần quá, mà cũng không xa quá. Hôm thì ngồi hầu như đối diện qua vài dãy bàn. Hôm thì ngồi xa xa chếch bên cạnh. Chính vì thế, tôi có dịp ngắm khuôn mặt xinh đẹp của nàng ở nhiều góc độ khác nhau. Và tôi nhận thấy nàng có vẻ đẹp thật hoàn hảo. Nhìn thẳng, nàng có khuôn mặt trái xoan, làn da trắng hồng mịn màng, cặp mắt to rộng mở, ánh lên cái nhìn thông tuệ. Đôi môi của nàng rất xinh, phớt hồng như màu của cánh đào phai nở mỗi dịp xuân về. Nhìn nghiêng, nàng còn xinh hơn. Những hôm nàng búi tóc gọn, để lộ chiếc cần cổ thon thả cao, trắng ngần, tôi không đọc nổi chữ nào. Mắt he hé liên tục liếc về nơi nàng ngồi. Hôm tôi mượn quyển “Con đường đau khổ” của ông nhà văn Nga Aleksei Tolstoy đọc. Tôi bỗng thấy Thu Hà như là hoá thân của nàng Katia vậy. Đẹp dịu dàng. Tôi mê Thu Hà quá. Tôi cứ mê mải ngắm nàng Katia- mùa thu Hà Nội của mình mà đến mấy tuần không đọc hết quyển sách. Nhưng tôi cũng đủ tỉnh táo để biết rằng mình không có cách gì với sao trên trời, nên cứ đành ngồi yên ngưỡng vọng. Tôi không phải là chàng Rotsin. Tôi lúc đó chỉ là thằng sinh viên tỉnh lẻ, nghèo, học dốt. Tôi chỉ được cái khoẻ. Nhưng nhiều lúc lại khoẻ quá! Đấy là lời của một cô bạn gái sau này, nói đêm hôm nàng chia tay tôi để đi lấy chồng. Nhưng mà riêng nàng Thu Hà, sau khi ra trường, tôi không có dịp nào nhìn thấy nàng nữa. Nàng biệt tăm cứ như là đã biến mất khỏi thế giới này. Sau này, đời tôi cũng khá giang hồ. Có lúc khổ như con chó nhà nghèo. Cũng có lúc rất hoành tráng. Tôi đã vào phố Tống Duy Tân xơi món gà ác hầm thuốc bắc, gần nhà nàng nhiều lần, có ý tìm lại người đẹp. Nhưng tuyệt nhiên không bao giờ thấy bóng nàng. Nàng Katia- mùa thu Hà Nội đã lướt qua đời tôi như một bóng nắng vậy.

***

     Một buổi chiều.

     Tôi lại ra bến sông. Đang ngồi bó gối nhìn vô định xuống dòng nước sông cuối thu lờ đờ chảy, bỗng có bàn tay to đùng của ai đó vỗ mạnh vào vai: “Làm gì mà ngồi đần như ngỗng ra ở đây vậy thằng em?” Tôi xoay người lại, thì ra đó là anh Vũ, người cùng làng tôi, vừa ở bộ đội ra quân, mới về mấy hôm nay.

     Anh Vũ hơn tôi hai tuổi, năm ấy anh hai mươi tư.

     Anh đi bộ đội năm năm, đã trải qua trận chiến biên giới. Trông anh rất phong trần.

     Hồi choai choai, tôi đã rất ngưỡng mộ anh Vũ. Anh ấy đẹp trai, cao to, đặc biệt rất giỏi võ vật. Từ Vovinam cho đến võ Tàu, từ vật cổ điển cho đến đấm bốc, anh ấy chơi được tất. Giải vật hội làng quanh vùng, anh ấy độc chiếm. Lên sới, anh Vũ quật đối thủ như nhái. Chỉ cần nhìn anh đấu một trận, là các đối thủ khác lặng lẽ rút lui. Thế cho nên bọn choai chúng tôi rất ngưỡng mộ anh. Những đêm trăng sáng, ra bãi đất bên sườn đê, anh Vũ dạy cho bọn tôi những miếng đòn cơ bản. Nhưng anh cũng dần chúng tôi như dần rắn. Chính nhờ những đêm trăng tập luyện như thế mà tôi mới có thể lực tốt, sau này tôi mới có thể vượt qua được những giây phút ác nghiệt của cuộc đời.

       Anh Vũ ngồi xuống cạnh tôi:

       -Chán quá mày ạ, tao vừa mới về làng được vài hôm mà đã thấy bí bách quá.

      -Thế mà em đã ở nhà gần tháng rồi đấy. Biết đi đâu được ở cái giời đất này?

     -Năm năm bộ đội về, làng quê vẫn thế. Đói hơn, rách hơn. Nhà tao một bữa cơm hai bữa ngô.

     -Thì bên nhà em cũng thế. Mà hồi ở bộ đội, anh đóng quân ở vùng nào vậy?

    -Mày có bao giờ nghe đến tên dãy núi Long Sơn thuộc vòng cung đông bắc chưa?

    -Em có nghe loáng thoáng. Hình như ở đó có đỉnh là ngọn Mã Tử rất thiêng phải không?

      -Chính nó đấy. Cả năm năm bộ đội, tao cứ loanh quanh ở phía tây cái dãy đó. Hết tiến lên phía bắc chán, lại lùi xuống phía nam.

      -Thế anh đã bao giờ trèo lên đỉnh Mã Tử chưa?

      -Chưa. Chưa lần nào lên đến đỉnh. Xung quanh thì bọn tao đã thám hiểm vài lần. Còn đỉnh, chưa lần nào dám lên vì trên toàn đá, trơ trọi. Lên đấy, chỉ sợ bọn bên kia biên giới nó nhòm thấy, câu cho một quả cối thì hết đường về quê mẹ.

     -Em nghe nhiều người trên đó về nói, vùng ấy có nhiều cái rất hay…

     -Ồ, phải nói là quá hay. Giá không có lục đục biên giới thì có khi tao ở lại đấy rồi, không thèm về quê nữa. Quê với chả quán, khốn khổ. Mày biết không, trên đó rừng già, thú còn đầy. Thịt hươu nai, cầy cáo…chén suốt. Năm ngoái, dân bản chân núi phía tây còn bắn được cả hổ.

     -Thế mà anh không ở- tôi vừa nói vừa nuốt nước bọt, cái dạ dày rỗng của tôi sôi lên ào ào- Em mà là anh thì em ở luôn trên đó rồi.

     -Mày cả đời chưa biết rừng xanh núi đỏ thế nào, mày cứ tưởng bở. Nhưng kể ra thì cũng có nhiều cái hay thật. Câu đó, anh Vũ nói với cái giọng mơ màng rất lạ.

      Buổi chiều hôm đó, anh Vũ đã kể cho tôi nghe rất nhiều cái hay ho của vùng núi mà anh đóng quân.

     Tôi, một thằng trai chưa từng biết đến hương vị của núi rừng như mê đi theo lời kể của anh Vũ.

     Từ quê nhà tôi, đi lên vùng Long Sơn khoảng hai trăm ki lô mét đường. Bây giờ thì là một chặng đơn giản với độ ba giờ gà gật trong ô tô máy lạnh. Nhưng thời ấy, là cả một khoảng cách diệu vợi kinh hoàng. Chỉ có ba chục cây số gọi là đường nhựa, còn là một con đường đất đỏ chạy giữa những dãy đồi hoang lúp xúp. Dọc theo con đường hướng lên phía bắc ấy, có rất nhiều đơn vị quân đội của ta đóng quân. Xe tăng, pháo lớn thường xuyên diễn tập nên con đường bị băm nát như tương. Mùa mưa, con đường bị biến thành một dòng sông bùn đỏ đặc quánh nhuộm đỏ xe cộ và người đi đường. Mùa khô, trên mặt đường lúc nào cũng có một lớp bụi dày cả gang tay. Xe ô tô chạy trên đường, cách nhau mấy chục mét đã không đi nổi vì bụi tung lên mù giời, không nhìn thấy gì. Những người đi trên con đường ấy, về, thường phải tắm vài lần mới hết bụi đỏ dính vào. Thế nhưng để lên đến Long Sơn, chả còn con đường nào khác. Bộ đội, công nhân lâm trường, giáo viên cắm bản, người đi buôn lâm thổ sản…cứ phải chen chúc nhau trên những cái xe khách cà khổ, sặc sụa bụi đỏ mà đi thôi.

     Cách Long Sơn ba mươi ki lô mét, phải vượt qua một cái đèo khá cao. Chỉ khi lên đến đỉnh con đèo này, người ta mới cảm nhận được khí hậu miền cao và khung cảnh rừng núi một cách rõ rệt. Nhiệt độ ngoài trời đột ngột giảm hẳn. Khung cảnh rừng núi âm u hiển hiện. Những cánh rừng lim cổ thụ xanh đen. Những con suối chảy róc rách dưới khe. Thỉnh thoảng, một con sóc cong đuôi lao vút qua đường. Vài con chim lạ lẫm đứng ngó nghiêng trên những cành cây bên rìa. Chiếc ô tô cà khổ lấm lem bụi đỏ đi qua, quệt cả vào, rung rinh lay động, nhưng chúng cũng chả buồn nhúc nhích cặp cánh…Trước khi đi đến chân dãy Long Sơn, phải qua một cái thung lũng khá bằng phẳng và trù phú. Thung lũng An Sơn. Xe khách sẽ đổ bạn xuống đó. Muốn vào Long Sơn, chỉ còn mỗi cách đi bộ. Từ trung tâm thung lũng An Sơn, đi vào điểm chân núi cao nhất của dãy Long Sơn khoảng ba mươi cây số đường rừng. Đỉnh Mã Tử huyền thoại chính là ở đây.

       Theo như lời anh Vũ kể, ngay cả dân sinh sống lâu đời quanh phía tây dãy Long Sơn cũng rất ít người dám nghĩ đến việc leo lên đỉnh cao nhất. Rất hiểm trở. Nhiều chỗ vách đá hầu như dựng ngược. Mặc dù khắp các làng bản quanh vùng chân núi vẫn âm thầm lan truyền một tin đồn là, trên đỉnh Mã Tử, trong một cái hang sâu thẳm, có một vật cực kỳ quí giá của đức Vua Phật ngày xưa để lại đó làm đồ quốc bảo. Trấn yểm trên đỉnh núi thiêng, giữ cho quốc thái dân an. Nhưng cánh giang hồ lục lâm thì nói, đấy là một viên đá ngọc, thiên thạch trên trời rơi xuống, rất quí. Tìm được thì cả nhà cả họ ăn mười đời không hết…Hồi bộ đội, anh Vũ rất hay la cà vào trong các bản uống rượu nên nghe được nhiều câu chuyện ly kỳ về viên ngọc trời này. Anh Vũ cũng đã từng gặp một số tay liều lĩnh đã định leo lên đỉnh Mã Tử tìm kiếm, nhưng rồi đều trở về thân tàn ma dại. Câm lặng. Thế nhưng vẫn có nhiều tay iêng hùng trong các làng bản quanh vùng, âm thầm mưu tính.

     Quanh chân dãy núi Long Sơn là cả một vùng dân khá đông. Dân cư ngụ ở đây rất lạ. Không theo một quy tắc nào cả. Thích thì tụ lại với nhau thành làng bản, không thích thì mỗi nhà cắm một khoảng rừng ở riêng. Từ nhà nọ đến nhà kia có khi phải đi một quãng rừng dài. Người Kinh, người Dao, người Tày, người Nùng, Sán Dìu, Lô Lô…ở với nhau thân ái đoàn kết, không thấy phân biệt Kinh Thổ. Lễ cấp sắc của người Dao, hội mùa của dân Tày, khai hội hát lượn của người Nùng, tết nguyên đán của người Kinh…cả vùng đều rượu say la đà. Đến đâu cũng rượu. Vạt rừng nào cũng thấy người say đang ngủ ngon lành. Dân vùng ấy đặc biệt hiếu khách quí người. Vào chỗ nào cũng được đón tiếp thân tình như người nhà. Anh Vũ kể, mình chỉ đi nhỡ độ đường, rẽ vào xin hớp nước, chủ nhà lôi chai rượu ra làm vài tuần, rồi bảo, chú ngồi đây, ta bảo cháu nó bắt con gà làm rau canh cho anh  em mình kin lẩu (đấy là một từ rất phổ biến ở vùng này, không phân biệt dân tộc hay kinh, ai cũng dùng, nghĩa là uống rượu). Rượu vùng ấy nấu bằng sắn, men lá rừng, rất nhiều. Gà lợn, trâu bò tự nuôi cũng rất nhiều. Con đường hiểm trở ba mươi cây số trèo đèo lội suối đã giữ cho những nét hoang sơ, hồn nhiên, thuần phác của Long Sơn đến khi ấy còn nguyên vẹn. Nghe anh Vũ kể, mà tôi thấy bụng mình sôi lên ùng ục từng hồi. Nước dãi ứa ra đầy miệng. Đã lâu lắm tôi không được ăn một miếng thịt gà nào. Hình như tôi đã quên mất mùi vị của nó ngon ngọt ra sao.

     -Nhưng ở đó, chân núi Mã Tử ấy, có một bản là hay hơn cả. Ai đã từng qua Long Sơn mà không vào, coi như phí phạm cả cuộc đời.

     -Bản gì vậy anh?

     -Bản Mền! Ngay chân đỉnh Mã Tử. Gái đẹp tuyệt. Mà lẳng nữa mới chết chứ. Tao đã tưởng không về xuôi được.

     -Hay thế sao anh không ở luôn?

     -Mày đúng là thằng học trò mặt trắng, không biết cái đinh gỉ là gì. Mày có biết đỉnh Mã Tử cách biên giới tính theo đường chim bay chưa đầy năm cây số không. Thỉnh thoảng ta với tàu vẫn lấy pháo giã nhau ùng ục. Mà cũng kỳ. Chuyện quốc gia đại sự, nhưng cứ như trò trẻ con giận lẫy. Lúc cáu nhau, vác súng to súng nhỏ ra nện nhau chí tử. Lúc lại oang oang loa đài chĩa sang nhau ca ngợi tình hữu nghị lâu đời. Đúng là trò trẻ trâu. Chỉ chết dân chết lính. Bọn tao làm lính, chán cảnh ấy lắm rồi. Được ra quân là thằng nào thằng nấy té ngay. Mày có biết lính tráng bọn tao có câu ca dao cửa miệng thế nào không: “Cầm vàng còn sợ vàng rơi/ cầm tờ quyết định đời đời ấm no” Có tờ quyết định ra quân, thằng nào cũng ba chân bốn cẳng chạy ngay ra dân xin ngủ nhờ. Mai xuôi sớm.

     Anh Vũ kể, hôm có quyết định ra quân, anh vào bản Mền ngủ nhờ để hôm sau đi bộ xuống thung lũng An Sơn bắt xe về xuôi.

     Bản Mền ở chân núi Mã Tử là một bản làng hết sức lạ lùng, độc nhất vô nhị của cả vùng Long Sơn. Đi qua con suối đầu bản vào, ta sẽ thấy như là bước vào một ngôi làng trù phú miền xuôi. Những ngôi nhà gỗ, nhà sàn to đẹp, sạch sẽ ngồi yên tĩnh trong vườn cây ăn quả xum xuê nhãn, mít, bưởi…Tất cả những ngôi nhà ấy đều hướng mặt ra một con đường trục chính to sạch giữa làng. Cứ như một con phố vậy. Thật kỳ lạ, một bản miền núi xa xăm heo hút mà lại có cách thức tổ chức sinh hoạt ăn ở văn minh đến vậy. Nhưng điều đặc biệt để cho bản Mền trở nên nổi tiếng là con gái rất đẹp. Cô nào cô ấy da trắng môi hồng, tóc đen dài óng ả. Cô nào cũng thon thả, thắt đáy lưng ong, chả ra dáng gì của người miền núi suốt ngày trèo đèo lội suối.

      Nghe dân trong vùng kể là, ngày xưa, khi đức Vua Phật từ bỏ ngai vàng điện ngọc ở kinh thành đến sườn đông dãy Long Sơn xây chùa tu tịnh. Vua mới lên thay bèn đưa hết các cung tần mỹ nữ của vua cũ về đấy làm nhà, cày ruộng, dệt vải dưới chân núi để thờ vọng đức ngài. Đang quen sống trong nhung lụa, phải sang sống đời thôn dã, nhiều bà không chịu nổi. Và không chịu nổi cảnh cô liêu của rừng núi nữa, bèn đâm đầu xuống con suối chân núi chết. Đức Vua Phật biết tin, thương xót, ngài cho lập chùa giải oan cho các bà ấy, chùa bây giờ vẫn còn bên sườn đông. Một số nàng cung nữ còn trẻ, khoẻ, không cam chịu chết, cũng không chịu sống cuộc đời héo mòn cô quạnh. Bèn băng rừng đi về phía tây. Những nàng cung nữ tràn trề khát vọng sống ấy, đã gặp những chàng trai của rừng tây Long Sơn. Và họ đã cùng nhau giao duyên, rồi sinh con đẻ cái, lập nên bản Mền. Có một quy luật tự nhiên đã được kiểm chứng là, con gái thường giống mẹ. Các bà cung tần mỹ nữ của vua xưa đương nhiên là đẹp, thế nên con gái các bà ấy sinh ra ở bản Mền sau này cũng đẹp. Nhưng cũng có một quy luật mà dân gian cũng đã ngầm thừa nhận là: Gái đẹp thường lẳng. Mãi sau này, khi tôi đọc được một quyển sách về y sinh học, tôi mới ngẫm ra rằng điều ấy là có lý. Cái làm nên má đỏ môi hồng, tóc mây mắt ướt. Cái làm nên eo thon vú nở mông tròn, khiến cho các đấng mày râu, từ anh hùng trượng phu đến tiểu nhân đê tiện, mê đắm hết đời trai không dứt nổi, chung quy cũng chỉ từ vài miligam cái chất nội tiết tố nữ, Estrogen mà ra. Đang từ một cô bé gầy khẳng khiu, một sớm kia thức dậy, một cơn lũ Estrogen từ đâu sinh ra đổ ập vào huyết quản của nàng. Thế là mắt nàng long lanh lên, môi nàng thắm ra, và nàng thấy thân thể mình nở nang từng ngày. Rồi nàng nhìn cậu bạn trai thường ngày, vẫn mặc quần đùi sang nhà chơi, thấy thẹn thùng. Và rồi trái tim nàng tự dưng loạn nhịp. Nàng biết yêu. Nàng thấy cuộc đời thật là kỳ diệu…Nhưng nếu tạo hoá không sinh ra mấy miligam Estrogen ấy thì làm sao trái tim nàng thổn thức khi thấy một chàng trai trong tầm mắt của mình? Nhưng khốn khổ (hay hạnh phúc?) cho những cô nàng xinh đẹp, cho những cô gái hậu duệ cung tần mỹ nữ xưa của bản Mền, khoa học cũng đã chứng minh, những người con gái đẹp, thường được ông giời, ông ấy ưu tiên cho hơn người chút Estrogen thần kỳ. Nên mắt họ long lanh hơn. Ngực họ tràn trề hơn. Và cái vùng phồn thực bí ẩn của họ cũng tốt tươi, phì nhiêu hơn. Thế nên họ tràn đầy khát vọng sống. Bản năng nữ của họ lúc nào cũng hiển hiện ra bên ngoài vô thức mời mọc. Họ lẳng. Như dân gian gọi.

      Gái bản Mền lẳng nổi tiếng vùng Long Sơn.

Đầu bản, ở cái gộp đá trên bờ suối, có một cái hang. Dân quanh vùng vẫn gọi đấy là hang đá đĩ. Là vì nhìn từ xa xa thì nó giống hệt như cái “đĩ” của đàn bà con gái. Mép hang là hai nếp đá gan gà nâu sậm khép mở rất hư tình. Cũng uốn một đường mềm mại lên trên đỉnh hang với một nếp gấp hơi nhô ra, dưới cái nếp ấy, một dòng nước trong vắt không bao giờ cạn ngày đêm chảy cong cong xuống bãi sỏi cuội phía dưới. Đấy cũng là bãi tắm ưa thích của các cô nàng trong bản. Xung quanh cửa hang, rêu, dương xỉ mọc lan man thành một thảm xanh mượt như nhung. Ở gần, thì chả ai để ý nó giống cái gì. Chỉ biết là nước từ cái khe nhỏ chảy ra rất mát, rất ngọt. Nhưng đứng ở xa mà ngắm, thốt nhiên người ta bỗng nghi ngờ, đây không phải là tự nhiên, mà có khi do con người sắp đặt. Đem điều nghi ngờ ấy vào hỏi dân bản, họ chỉ cười. Ai hơi đâu mà đi làm cái ấy. Mà làm làm sao được? Giời sinh ra thế nào thì vẫn vậy thôi. Núi rừng nghìn năm nay có thay đổi gì đâu.

      Hồi còn tại ngũ, anh Vũ cũng đã theo bọn bạn vào bản Mền chơi ban đêm. Thấy gái bản đẹp thật. Mê quá. Nhưng chưa được xơ múi chút gì.

Hôm nhận quyết định ra quân, thanh toán, làm giấy tờ xong thì đã quá chiều. Anh Vũ khoác ba lô, rời doanh trại, rẽ vào bản Mền xin ngủ nhờ. Đã có khối trường hợp chiều nhận quyết định ra quân, tối bên kia biên giới nứng lên, nã sang vài quả pháo. Thế là báo động, cấm trại, thu hồi lại quyết định. Lính tráng về sau rút kinh nghiệm, cứ có quyết định là thằng nào thằng nấy chạy biến ra dân ngủ nhờ. Anh Vũ vào nhà ông Lửng, một nhà có quen biết dịp tiểu đội Vũ đến làm giúp đào cái ao thả cá sau vườn. Ông Lửng có nhiều con, ba trai, năm gái. Một số lấy vợ lấy chồng, một số chưa, nhưng rất hay tụ tập ăn uống rồi ngủ lại cả ngôi nhà sàn bằng gỗ rất to của ông bố. Thấy Vũ vào, ông Lửng cười, chỉ cho chỗ để ba lô, cũng sẽ là chỗ nghỉ qua đêm. Chỉ lát sau, đã thấy Thuỳ, con gái út ông Lửng bê một chảo gà xáo gừng thơm nức ra sàn. Thuỳ mới khoảng mười sáu mười bảy gì đấy, khá xinh. Bữa ăn hôm ấy có gà xáo, măng đắng luộc chấm muối ớt và canh rau cải rừng. Có lẽ đấy là bữa cơm ngon nhất đời của tao từ bé đến lúc ấy. Anh Vũ nói thế. Rượu thì khỏi phải nói. Mỗi người chúc tao một bát, may mà rượu men lá nên tao vẫn trụ được. Lúc ra đầu sàn rửa chân tay mặt mũi để đi ngủ, thì Thuỳ đang rửa bát ngoài đó. Nàng nhìn tao rất lạ, rồi nói nhỏ: “ Tối mẹ ngủ say rồi em ra với anh nhé”. Tao không tin vào tai mình nữa.

      Đêm hôm ấy, con cái, dâu rể nhà ông Lửng rượu xong rồi lại tập trung ngủ lại cả ở nhà bố mẹ cho vui. Cứ mỗi đôi ôm chăn đệm chiếm một góc sàn. Chỉ có cô út ngủ với mẹ trong buồng. Đêm, một đống lửa to được đốt giữa nhà để xua đi cái hơi lạnh của núi đá toả xuống. Nhưng câu chuyện râm ran, lộn xộn không đầu không cuối dần tàn theo ngọn lửa bập bùng. Rồi đến những âm thanh huê tình nóng hổi trong đêm thu nổi lên. Mới đầu còn rón rén, như có một chút gì đó ngại ngùng. Sau, cả cái nhà sàn gỗ lim cũng như chao đảo bồng bềnh trong cơn sóng tình tràn trề của những gái trai hừng hực sức sống. Những thanh âm tình tứ thăng hoa của đôi nọ như kích thích thêm cho đôi kia hăng hái dắt nhau vượt đỉnh vu sơn. Cả ngôi nhà ngập tràn thanh âm của hạnh phúc.

      -Nói thật với mày, may hôm ấy được ra quân nên tao vui, uống khá nhiều rượu nên có thể ngủ quên một lát. Chứ không thì có thánh mới ngủ nổi. Cái nhà sàn cột bằng toàn cây lim to, sàn cũng lát ván lim dày bốn tấc mà cứ rung ầm ầm như đưa võng. Chưa từng thấy trai gái ở đâu làm tình hăng như thế. Mà mấy đôi nằm chỉ cách nhau vài bước chân, cứ vô tư hồn nhiên “giã” nhau thẳng cánh thế mới hay chứ. Đang mơ màng trong men rượu thì tao thấy một thân thể con gái thơm nức, nóng hổi trườn vào trong chăn, quấn lấy mình. Tao biết ngay là Thuỳ. Bởi lúc ăn cơm tối, ngồi gần, ngửi mùi tóc Thuỳ thơm quá, tao đã lợi dụng lúc mọi người đang mải chúc tụng nhau, ghé sang hít tóc nàng một cái và bảo, tóc em thơm quá… Thế là tao và Thuỳ riết chặt lấy nhau không ngừng nghỉ giây nào cho đến gần sáng.

      -Này, mày đã được nếm mùi tình ái chưa? Đã yêu em nào chưa?- Đang kể chuyện bộ đội, bỗng anh Vũ dừng lại hỏi tôi.

      -Em chưa. Hồi đại học, em yêu một nàng, nhưng chỉ dám nhìn, không dám cả tỏ tình.

      -Thế mà cũng gọi là yêu. Yêu là phải hôn hít sờ mó nhau. Là phải “giã” cho tơi bời hoa lá thì mới gọi là yêu. Bốn năm học ở đất thủ đô hoa lệ như mày phí cả đời trai đi.

     -Em cũng đang thấy phí đời đây. Đời trai như em bây giờ, không công ăn việc làm, không tình yêu, phí cả công sống. Mà anh được nếm mùi đời khi nào mà có vẻ thành thạo vậy?

     -À cái vụ này thì đơn giản. Hồi huấn luyện tân binh ở ven Sông Cầu, bọn tao bị tống lên chặt nứa làm doanh trại mãi trên mạn Na Rì. Tao bị mấy thằng lính cũ đưa vào đời dịp ấy.

     Anh Vũ ngả người nằm dài ra bãi cỏ bờ sông. Trời lúc ấy đã nhá nhem. Anh kể tiếp.

     Bọn tân binh chúng tao bị đưa lên vùng núi Bắc Cạn hai tuần liền để chặt nứa ngộ về làm doanh trại. Vùng Na Rì có giống nứa rất to, gọi là nứa ngộ. To như cây tre dưới mình nhưng dài và thẳng tắp. Chặt nứa trên đồi, bó lại thành từng bó mươi cây một, kéo xuống suối đóng thành bè, ròng theo lòng suối rồi ra đến sông Cầu, xuôi về chỗ bến Tuần là nơi gần đơn vị thì vớt lên. Chặng đường thuỷ từ chân rừng Na Rì về bến khá vất vả, có khi hàng tuần. Nếu gặp dịp nước suối cạn, phải tăng bo nhiều còn lâu hơn. Ở giữa chặng đường là thành phố Chè, nơi từ lính đến quan đơn vị tao truyền tai nhau là, nhất thiết phải cắm trại nghỉ lại. Qua gầm cầu bê tông, vượt ngầm Bến Tượng, ghé vào vườn hoa Sông Cầu, neo bè, lên công viên cắm trại ở vài hôm, là đời tươi roi rói…Mày không biết đâu, vườn hoa Sông Cầu khi ấy là trung tâm tươi mát của thành phố ven sông này. Lính tráng bọn tao, mới nhập ngũ, có ít tiền nhà cho, bị tống vào rừng chưa có dịp tiêu. Bọn sĩ quan chỉ huy nó biết, bèn rủ đi chơi gái. Mới đầu tiền còn xông xênh, xong việc, bo thêm lịch sự như Pháp. Mấy hôm sau, hết tiền mà vẫn thèm tình, gạ mấy em gán gạo có được không? Gật. Mấy hôm sau nữa, gạo cũng hết phần dư rồi. Vẫn thèm. Mà các em cứ ra ngồi ghế đá đánh mắt mời mọc. Bọn tao mới bảo, bọn anh chả còn gì, chỉ còn nứa dưới bè có xong không? Cũng xong. Một bó nứa mươi cây là một cái. Nhưng mà các em bảo, chúng em không vác được. Thế là xong việc, các chú lính nghễu nghện vác mấy bó nứa ngộ về khu tập thể công nhân gần đấy. Giời ạ, mày có tưởng tượng được không- Anh Vũ như thở hắt ra một cái rồi kể tiếp. Những cô gái ra bán hoa đêm bên vườn hoa Sông Cầu toàn là công nhân các nhà máy bị thất nghiệp. Hồi ấy ở thành phố này có khu công nghiệp lớn do nước ngoài viện trợ. Sự cố rút chuyên gia, cắt viện trợ làm cho cả thành phố điêu đứng. Công nhân nữ trẻ không có nơi bấu víu âm thầm rủ nhau ra vườn hoa kiếm thêm. Thật khốn kiếp.

      Lần đầu tiên tao biết mùi đàn bà là một đêm mùa hè nóng nực, trong cái dịp đi chặt nứa ấy. Tay Luyện, chuẩn uý trung đội trưởng rủ tao vào nhà một cô công nhân quen biết, ở khu tập thể lợp toàn lá cọ gần chỗ đường tròn trung tâm. Vì hôm ấy tao chi tiền nên được ưu tiên làm trước. Tuy là một thằng trai tân, nhưng những đêm lính tráng trong rừng hoang, tao đã được nghe bọn đồng ngũ kể nhiều về chuyện ngủ với gái rồi. Có hôm sinh hoạt chuyên đề ban đêm là, thằng nào đã từng biết mùi đời, thì kể chuyện lần đầu tiên như thế nào. Nhiều thằng thú thực, lần đầu mới chỉ tụt được quần bạn gái ra, pháo hoa đã bắn tung toé. Xấu hổ chết đi được. Tao đã âm thầm tự rút kinh nghiệm. Cho nên, mặc dù lúc đầu có hơi hồi hộp, nhưng rồi tao cũng làm tới bến. Cô gái hình như cũng mãn nguyện, nàng ghì giữ tao nằm yên trên bụng mình thêm một lúc lâu. Đến lúc chuẩn uý Luyện, ngồi ngoài cửa dặng hắng mấy lần, tao mới tụt xuống.

      -Nhưng mà quả thật mày ạ, cái gì là lần đầu tiên cũng nhớ mãi. Sau đêm đầu tiên ấy, tao còn vào phòng cô ấy mấy đêm liền. Đêm cuối, sáng hôm sau chúng tao xuôi bè, cô ấy bảo tao là có dịp đi qua thành phố, cứ ghé vào phòng cô ấy chơi. Không cần tiền, không cần gạo, không cần nứa cũng được mà…Thế mà gần năm năm rồi không có dịp qua cái căn phòng bé xíu lợp lá cọ ấy nữa. Nhưng ánh mắt long lanh và mùi mồ hôi ngầy ngậy của cô ấy thì có lẽ tao không bao giờ quên được.

      Lúc này trời đã tối hẳn. Một màn sương nhờ nhờ lại bao phủ khắp dòng sông, bến bãi.

      Hai thằng trai chúng tôi cứ nằm dài trên bờ cỏ. Im lặng. Không thằng nào nói gì. Cũng không thằng nào muốn về nhà. Về thì cũng vậy, vài bát ngô om nhại trệu trạo với mấy miếng trám mặn chát. Rồi lên giường, đi ngủ. Không một ánh điện. Không một trang sách. Nói gì đến ti vi. Hai thằng chúng tôi đều cảm thấy bức bách, bế tắc như nhau. Nếu cứ như thế này mãi, thử hỏi đời có gì đáng sống. Bỗng tôi nhớ đến ông thày dạy môn Kinh tế- Chính trị ở trường đại học. Một trong những ông thày mà tôi kính trọng nhất. Khi vào lớp giảng bài, thày không bao giờ giảng những điều trong giáo trình. Thày bảo, có gì mà giảng? Thày hay nói những câu chuyện thời cuộc ngoài lề. Một hôm thày bảo bọn sinh viên là, các anh có lý giải được tại sao càng nghèo đói thì người ta càng đánh nhau hăng không? Là vì cuộc sống quá khốn khổ, củ khoai củ sắn, thậm chí là cháo cám, củ chuối. Một cuộc sống như thế thì đúng là sống như chết. Vậy có ai tiếc cái cuộc đời sống như chết rồi ấy không?

       Bỗng anh Vũ vùng dậy, nói: “ Này, tao với mày hai thằng ta làm một chuyến trở lại Long Sơn, trèo lên đỉnh Mã Tử đi. Có khi bọn mình kiếm được viên ngọc trời là đổi đời đấy”

      Tôi cũng nhỏm dậy, nhìn anh Vũ, mắt anh ấy sáng rực long lanh trong bóng tối. Ừ, tại sao chúng tôi, hai thằng trai trẻ trung tràn trề sinh lực lại nằm khàn chịu đói ở cái bến sông âm u này nhỉ? Có một đỉnh núi thiêng, có một điều hứa hẹn đổi đời đang đợi. Tại sao chúng tôi không dám thử vận mệnh mình? Dòng máu trai trẻ từ đâu chợt cuồn cuộn nóng hổi trong huyết quản, khiến hai thằng chúng tôi chỉ muốn đi ngay trong đêm. Đỉnh thiêng Mã Tử với viên ngọc trời cực kỳ quí giá, một cơ hội đổi đời đang vẫy gọi hai thằng trai quê chúng tôi.

      Tối hôm ấy, tôi nói với mẹ là, mai tôi sẽ đi tìm kiếm tương lai hạnh phúc cho mình. Mẹ tôi chảy nước mắt, ôm vai tôi rồi thì thầm: “Chí nam nhi ở bốn phương, mẹ không ngăn trở con. Nhưng con có đi đâu, làm gì, thì hãy nhớ tới mẹ con nhé”. Rồi bà lần trong túi ra những đồng bạc nhàu nát, đẫm mùi mồ hôi dúi vào tay tôi. Tôi cầm mà tưởng như muốn đứt từng khúc ruột. Tôi đã thầm hứa với mình lúc ấy, nếu tôi làm ra nhiều tiền, việc đầu tiên là tôi sẽ báo hiếu mẹ thật nhiều. Nhưng hỡi ôi, sau này tôi cũng có nhiều tiền thật, thì lúc đó mẹ tôi cũng lại chả cần đến những đồng tiền của tôi. Còn lúc này, tôi âm thầm quay đi. Tôi không muốn mẹ nhìn thấy những giọt nước mắt bất lực, xót xa của mình.

     Và ngay hôm sau, chúng tôi lên đường.

***

     Khi chúng tôi đến bản Mền, chân đỉnh Mã Tử thì trời đã nhá nhem tối.

      Hai thằng quẳng ba lô lên tảng đá, rồi ghé đầu vào cái vòi nước đang róc rách chảy ra từ cái hang huyền thoại. Nước suối mát lạnh, bụm tay uống một ngụm, tưởng như bao mệt mỏi đói khát tan biến theo dòng nước ngọt ngào thấm vào từng tế bào của hai thân thể đói khát. Bỗng có tiếng con gái run rẩy gọi : “Anh Vũ”. Rồi bóng một người lao vụt ra, ôm chầm lấy Vũ. Tôi đoán đấy là Thuỳ. Đúng vậy. Vũ đứng yên cho Thuỳ hôn hít một lúc rồi gỡ tay nàng ra thong thả giới thiệu: “Đây là em anh ở quê lên cùng”. Thuỳ có vẻ ngượng ngùng, lí nhí chào rồi xăng xái xách ba lô cho anh Vũ đưa chúng tôi về nhà.

     Bố mẹ Thuỳ rất vui.

Mẹ Thuỳ nói, từ hôm thằng Vũ về xuôi, con Thuỳ toàn ốm lửng, không làm ăn gì được, người hao đến mấy cân thịt.

Tôi không dám chắc là Thuỳ có hao người không. Nhưng tôi thấy người cô ấy cứ căng tràn ra. Cô ấy rất xinh và rất vui. Má môi đỏ rực. Có khi là do uống khá nhiều rượu. Tôi thấy lạ. Tôi chưa từng nhìn thấy con gái uống nhiều rượu như thế bao giờ. Anh Vũ thì chắc do ở miền núi lâu năm nên thấy bình thường. Ở quê tôi, đàn bà con gái chả bao giờ dám uống nhiều rượu như thế. Cả làng chỉ có bà Sàng goá chồng ở đầu làng là hay rượu. Bà Sàng goá chồng năm hai mươi nhăm tuổi, ở vậy. Nuôi anh con trai duy nhất là Đôn, lớn, lấy vợ cho. Rồi anh Đôn- theo lời bà Sàng, gào hàng đêm “chỉ biết úp mặt vào l…vợ, không còn biết gì đến mẹ”. Mỗi tối bà Sàng nhâm nhi một be, đến khoảng mười giờ hết rượu là bà vừa phê. Bà bắt đầu cất cái giọng vang rền của mình. Bà chửi. Cả làng cùng nghe. Nhưng bà chỉ chửi con dâu, xong, bà chửi đến con trai, nên không ai can thiệp vào. Vả lại bà ấy là vợ liệt sĩ nên làng càng ngại. Mà nghe bà Sàng đêm đêm chửi con thành quen. Tôi đồ rằng, khi đấy cũng là một mục giải trí hàng đêm ở làng tôi. Thường thì bà Sàng ngồi ngoài sân chửi ầm ĩ. Còn anh Đôn cứ ôm vợ trong buồng, thỉnh thoảng kháy lại mẹ vài câu. Có hôm anh Đôn nói hỗn quá, bà Sàng gào rống lên: “Ối trời cao đất dày ơi. Tao mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày mới đẻ ra mày. Tao bóp mồm bóp miệng nuôi mày lớn bằng sào bằng gậy, để bây giờ mày cãi tao nhem nhẻm. Tao biết thế này, tao đẻ quả trứng tao ăn chứ đẻ ra mày làm gì. Ới con ơi là con ơi” ,“Ới rượu ơi là rượu ơi”, tiếng anh Đôn cũng gào tướng lên trong đêm. Vui ra phết. Sáng mai, mẹ con, bà cháu lại ríu rít như không có chuyện gì. Thiên hạ vẫn thái bình.

      Ở trên bản Mền thì phụ nữ uống rượu cũng nhiều như đàn ông, nhưng không thấy ai say sưa chửi bới. Uống xong, thấy họ xinh lạ, mắt long lanh.

     Uống xong trận rượu tẩy trần tối hôm đó, thì ông Lửng gọi anh Vũ vào bàn nước, ngồi nói chuyện. Ông ấy bảo, con Thuỳ nó yêu mày quá rồi, thôi cho chúng mày cưới nhau, rồi ở luôn đây tao gây dựng cho.

     Ông ấy còn bảo, tuần trước mày về xuôi, không để lại địa chỉ, chứ nếu không con Thuỳ đã lồng theo rồi. Chiều nào nó cũng ra đầu bản, ngồi ngóng mãi đêm mới về.

    Thế là anh Vũ có vợ. Trẻ, xinh. Anh ấy có vẻ hài lòng.

Hôm nhà ông Lửng tổ chức đám cưới, tôi được phân công làm vai đại diện gia đình nhà trai. Mọi người đến chúc rượu, rất vui.

Đám cưới trên bản Mền, tổ chức ba ngày, rượu chảy thành sông. Gà lợn bị vật vô số kể.

Đêm thứ ba mới là lúc làm lễ gia tiên để xin phép cho đôi trẻ động phòng hoa trúc. Tôi ngồi ở vị trí danh dự, nhìn anh Vũ xì xụp khấn vái, tí nữa thì không nhịn được cười. Chả cần thần linh thổ địa, ma xó ma nhà hay các cụ trên cho phép, chúng nó đã động từ lâu rồi. Mà thanh niên nam nữ vùng này động sớm lắm. Nhoằng một cái là lôi nhau vào rừng. Có giời biết.

      Lễ vừa xong, đôi tân hôn đang định dắt nhau vào phòng cưới, thì một tay thanh niên mặt mũi phừng phừng, cầm một con dao quắm dài to sáng loáng xông thẳng vào giữa nhà. Hắn vung dao bổ một nhát chẻ đôi cái bàn uống nước bằng gỗ lát hoa, gào rống lên: “ Ông Lửng. Ông đã hứa gả cô Thuỳ cho tôi, nay ông lại cho cưới người khác là sao đây. Là sao?”

     Tôi thấy rợn người. Nghĩ sắp có trận huyết chiến sảy ra. Theo thói quen của con nhà võ, tôi liếc rất nhanh mọi vị trí địa hình địa vật xung quanh để sẵn sàng thủ thế. Nhưng tôi lại nghe cái giọng gào quen quen. Tôi bước tới gần nhìn cho kỹ. Trời ! Thằng Tư Thổ lớp K30 cử tuyển.!

     Cái giọng rượu của thằng Tư Thổ thì không cứ tôi mà cả dân ký túc trường tôi đều quen. Nhừa nhựa, lơ lớ. Cứ mỗi kỳ thi, báo điểm, là Tư Thổ lại chìm vào men rượu giải đen vì nỗi thi trượt. Mà Tư Thổ giải đen thường xuyên thế nhưng trượt vẫn hoàn trượt. Chỉ béo bà bán ốc luộc với rượu ở vỉa hè ngoài phố, đêm nào cũng có Tư Thổ ngồi đồng với một chai sáu lăm. Cưa xong chai ấy thì Tư Thổ loạng choạng ra về. Vào cổng ký túc, chỉ cần gặp một ai đấy, hỏi một câu là Tư Thổ bắt đầu gào toáng lên.  Lúc Tư Thổ bỏ học, bọn ký túc cũng thấy bâng khuâng. Hơi nhớ. Vì Tư Thổ chỉ rượu mới gào lên thế cho xả bớt hơi men, chứ còn bình thường, nó rất lành. Thì “thổ” mà lại. Nó cũng hay giúp đỡ mọi người, hay đãi đằng bọn tôi. Nghe nói, nó còn là một tay võ nghệ cũng khá.

     Tôi lách mọi người đến gần, gọi: anh Tư.

     Tư Thổ nhìn lên, hơi thoáng chút giật mình: sao mày lại ở đây?

Thì ra đây là quê hương Tư Thổ. Ngày còn dưới trường, thỉnh thoảng đối ẩm cùng Tư Thổ, chỉ biết nó là người dân tộc vùng cao, vào đại học theo diện cử tuyển. Học mãi mà chả chữ nào chịu chui vào đầu, Tư Thổ bỏ về quê Long Sơn, bản Gà, cách bản Mền độ một con dao quăng.

     Theo lời Tư Thổ thì chính ông Lửng đã nhận lời gả con út là Thuỳ cho Tư. Đám đàn em đi theo Tư Thổ xác nhận điều này.

     Ông Lửng tuyên bố là có chuyện hứa gả thật. Trong một trận rượu bên bản Gà hôm lễ rửa cày bừa ông có nói gả. Nhưng ông cũng nói con tao, l…nó, đứa nào khéo mó thì được. Mày không mó được. Nó cho thằng Vũ mó. Thì giờ nó là vợ thằng Vũ thôi.

      Nhưng Tư Thổ lại nói, nó cũng mó rồi. Hôm Thuỳ đi nương về, gặp ngang đường, Tư Thổ đã sờ một phát. Tuy bị Thuỳ phang cho một cái đòn gánh, nhưng là đã sờ trúng rồi. Bọn đàn em của Tư Thổ cũng nói là đã sờ.

     Ông Lửng không công nhận. Ông bảo thế là mó trộm. Không tính.

     Anh Vũ tất nhiên không chấp nhận. Anh bảo, thằng nào mà sờ vào Thuỳ thì hãy bước qua xác tao.

      Lời qua lời lại om xòm. Rượu ba ngày ròng rồi nên lời càng dài, càng nhiều lý lẽ. Tư Thổ nói cái lý của người bản Gà đã hứa là phải gả, không lôi thôi. Tư Thổ còn bảo đây là chân lý. Bọn đàn em vốn rất phục anh Tư từng đi học mấy năm dưới thủ đô, nói đúng rồi. Chân lý thì phải gả thôi.

      Một ông trong họ nhà ông Lửng nhảy bổ ra chỉ mặt Tư Thổ nói, mày đừng có loè người. Chân lý chỉ là cái lý có chân, nó đi từ chỗ này sang chỗ khác. Chân lý của mày ở bản Gà, đi sang bản Mền tao khác rồi. Đừng có mà lên nước.

     Tôi đứng nghe mấy ông phê rượu cãi nhau mà váng hết đầu. Tôi nháy anh Vũ, kệ mẹ mấy thằng nát rượu, cứ mang vợ vào phòng mà ngủ. Tư Thổ nhìn thấy lại vung dao gào rống lên. Mấy thằng đàn em cũng phừng phừng dao búa trợ giúp. Cánh đàn ông con trai nhà ông Lửng lăm lăm mã tấu.                            Tình hình có vẻ không ổn.

     Anh Vũ buông Thuỳ ra, đến trước Tư Thổ hỏi: bây giờ ông muốn gì?

     Tư Thổ nói: tôi với ông bây giờ phải đấu một trận, thằng nào thắng được vợ.

     Anh Vũ bảo: được, quân tử nhất ngôn nhé.

     Thuỳ quát um lên: tôi không là trò cười của các anh đâu nhé.

     Anh Vũ nói nhỏ vào tai Thuỳ: yên tâm, thằng này phê rượu rồi, đứng không vững, chỉ nửa đòn của anh là gục. Em cứ vào buồng ngủ trước, anh về ngay.

     Cả đám cưới kéo nhau ra bãi cát bên bờ suối đầu bản chứng kiến trận tỉ thí chưa từng có. Trọng tài là một ông già quắc thước, nghe nói xưa cao thủ võ lâm nhất vùng Long Sơn. Luật là chơi tay không, được sử dụng mọi thế võ, bên nào bị đánh gục úp mặt xuống, mũi dính cát trước là thua.

      Giữa ánh lửa rừng rực của đuốc nhựa trám, hai đấu thủ nhảy vào nhau ra đòn ngay, không dền dứ. Tay nào cũng muốn hạ gục nhanh đối phương. Mọi thế đánh được tung ra. Hết Vovinam, Vịnh xuân quyền, Karate, Võ Tàu, thậm chí, anh Vũ còn lừa thế, tung một cú thôi sơn, móc ngược cánh cung vào hàm Tư Thổ. Thế mà thằng cha này vẫn chưa đổ. Chỉ hơi loạng choạng. Tư Thổ xoay người, phóng liền mấy cú liên hoàn cước vào mặt anh Vũ, rồi tung người, quặp chân vào cổ quật xuống. Cả hai vật xuống bãi cát, nhưng đang hăng , chồm vào nhau vật lộn, đấm đạp loạn xạ. Ông trọng tài tuyên bố dừng đấu để phân định. Soi đuốc vào mặt thì thấy tay nào cũng bầm giập, be bét máu, mũi dính đầy cát. Ông tuyên bố hoà. Nhà nào về nhà ấy.

      Sáng hôm sau, lúc tôi chưa ngủ dậy thì Tư Thổ đã đến nhà ông Lửng.

      Trông nó lại lành hiền như hồi còn lọ mọ cắp sách lên giảng đường. Nó ngượng nghịu bảo tôi, mày thông cảm nhé, nói anh Vũ bỏ qua. Đêm qua là do rượu vào nên thế, chứ thực lòng nó không có ý dám phá đám. Rồi nó mời tôi lúc nào sang bên bản Gà chơi, uống rượu. Lại rượu. Thực tình cuộc đời tôi sau này, rồi sẽ đi uống rượu khắp nước, uống cả ở nước ngoài, uống với đủ các hạng người. Nhưng tôi chưa từng thấy một người nào có sự thay đổi tính cách dữ dội trước và sau rượu như Tư Thổ. Không thể giải thích được.

     Thế là tự dưng tôi thành trai bản Mền.

     Tôi ở nhà ông Lửng, hàng ngày đi rừng, làm nương cùng vợ chồng anh Vũ. Từ ngày cưới vợ, anh Vũ chả nói gì đến chuyện lên đỉnh Mã Tử nữa. Mấy lần tôi sốt ruột, có ý nhắc thì anh bảo, cứ từ từ, đâu khắc có đấy.

Sống ở bản Mền, tôi thành một tay trai rất có giá ( là Thuỳ nói thế) vì tôi đã tốt nghiệp đại học hẳn hoi. Tư Thổ chưa bao giờ thi qua được môn nào, nhưng về đây, nó vẫn được dân quanh vùng rất kính trọng, đàn em theo đầy. Dù gì thì nó cũng đã từng theo học mấy năm dưới kinh kỳ. Nhưng anh Vũ bảo nhỏ, gái ở đây tuy lẳng, hôn hít, hoa lá cành bên ngoài thì vô tư nhưng “giã” vào là xong, phải cưới đấy. Thế cho nên tôi rất đề phòng. Tối đến, tôi hay cùng bọn Tư Thổ đi chơi các bản, có rủ riêng em nào vào rừng, tôi cũng chỉ dám loanh quanh thám hiểm bên ngoài khe động, hôn hít vớ vẩn, tuyệt không dám tiến sâu. Tôi không muốn chôn vùi cuộc đời trai trẻ của mình ở cái xứ âm u này. Không hiểu sao, tôi vẫn có linh cảm là cuộc đời mình sẽ phải khác. Nhiều buổi chiều, tôi ra đầu bản ngắm đỉnh Mã Tử mờ ảo trong mây, dường như trong mù mờ sương khói gần chạm tới cao xanh kia, có một cái gì đang âm thầm lấp lánh sáng chờ đợi tôi. Dù anh Vũ suốt ngày đêm vui thú bên cô vợ ngày càng xinh đẹp nõn nà ra, không còn nghĩ đến việc leo lên đỉnh Mã Tử để tìm viên ngọc trời, thì tôi lại ngày càng nung nấu. Mỗi ngày đi rừng, tôi âm thầm ngắm nghía địa hình phương hướng. Tôi quyết leo lên đỉnh Mã Tử, chiếm lấy viên ngọc trời để đổi đời. Nhưng một mình trèo lên đó là chuyện không tưởng. Đường lên cực kỳ hiểm trở, phải xuyên qua rừng già, qua những gộp đá tai mèo. Phải ngủ qua đêm trên núi cao hoang lạnh đầy thú dữ. Tôi chưa biết tính thế nào. Ở trên Long Sơn mấy tháng, ngày đi rừng, tối về rượu chè lu bù. Sức lực trai tráng của tôi như được bồi đắp bởi khí hậu và thức ăn dồi dào của vùng này. Tôi khoẻ ra rất nhiều. Tôi đã thạo hết các công việc của một tay trai bản chính hiệu. Đẵn cây, xẻ gỗ, đốt nương, thậm chí cả vác súng vào rừng ban đêm bắn thú. Việc gì tôi cũng làm tốt. Gia đình bố vợ anh Vũ rất quí tôi. Có ở trên này lâu lâu mới thấy là người vùng Long Sơn tử tế và quí người lạ. Bà Lửng cứ xuýt xoa tiếc, giá còn cô con gái nào thì gả luôn cho tôi, hay biết mấy.Tôi chỉ cười.Thỉnh thoảng buổi chiều rỗi rãi, tôi ra đầu bản, leo lên cái gộp phía trên hang đá đĩ, ngồi nhìn hướng về xuôi. Phía xa xa, trên những triền núi thấp, vài bóng áo chàm lúi húi. Những ngọn khói đốt nương xanh thẫm lờ đờ uể oải bay lên tan dần vào nền trời xám đục. Buồn. Một nỗi buồn không tả nổi từ đâu đột ngột xâm chiếm toàn thân thể. Cả con người tôi như tan vào cái vô vọng âm u của núi rừng. Tôi chợt hiểu, tại sao trên này người ta uống nhiều rượu như vậy. Uống để quên đi nỗi buồn hoang hoải hình như lúc nào cũng lẩn quất trên từng cành cây, ngọn núi, cánh rừng.

      Một đêm không ngủ được.

      Trong đêm ấy, đầu tôi chợt nảy ra ý tưởng, tại sao mình không sang bản Gà rủ Tư Thổ?

      Đúng như tôi dự liệu, Tư Thổ sau khi nghe tôi nói, đồng ý ngay. Nó cũng rất nhớ thủ đô. Nó nói, nếu mà tao với mày trúng quả, tao sẽ về kinh thành, mua nhà gần cái hồ có con rùa to ở cho đã.

Hai thằng chúng tôi âm thầm bắt tay vào chuẩn bị cho chuyến ngược đỉnh Mã Tử. Dự kiến để lên đến đỉnh, phải mất hai ngày. Phải ngủ rừng một đêm. Dịp này đang là mùa đông, khô ráo, rất thuận cho việc leo núi.

Đúng một tuần sau, chúng tôi lên đường. Âm thầm. Từ sáng sớm. Tôi viết giấy nhắn lại anh Vũ là, tôi ra An Sơn chơi vài ngày. Nếu tiện xe, tôi có thể về xuôi luôn.

     Đường từ chân dãy Long Sơn lên đến đỉnh cao Mã Tử ước khoảng mười năm cây số ngược núi. Nhưng cực kỳ khó đi. Chúng tôi dự kiến sẽ cắt rừng đi đến chân ngọn Mã Tử rồi sẽ lần theo khe suối Ma để lên đỉnh. Gọi là khe Ma, vì đã rất nhiều người bỏ thây tại đây. Đi theo lòng suối đá, thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy một khúc xương người hay thậm chí là một cái đầu lâu nhe răng trắng ởn nhìn giời. Dân vùng Long Sơn kể rất nhiều về những cái chết ở khe Ma. Chết do lũ ống đổ xuống: một nhóm người đang định lên Mã Tử, ngồi nghỉ hút thuốc lào dưới lòng suối, bất ngờ, một cột nước khổng lồ đổ ập từ trên cao xuống. Không ai chạy kịp. Không một mống nào sống sót. Rồi chết do cây đổ, chết do rắn cắn, chết do ngã từ vách đá, chết do hổ, gấu vồ…Rất nhiều kiểu chết. Thế cho nên, suối Ma là địa điểm ít người dám đến. Chỉ cần bước qua hòn đá to như cái phản, nơi nước từ suối khe Ma đổ vào dòng suối to, là ai cũng thấy lành lạnh sống lưng. Nhưng khốn nỗi đấy lại là con đường khả dĩ nhất để có thể leo lên đỉnh Mã Tử. Tư Thổ và tôi bảo nhau, hai thằng mình khoẻ mạnh, võ nghệ đầy mình, lại có trí thức nữa ( mãi sau này tôi mới hiểu là phải dùng từ: tri thức mới đúng. Nhưng lúc đó, tôi đồng ý với Tư Thổ là trí thức). Mà không leo được lên đỉnh, không chiếm được viên ngọc trời quí giá kia thì đợi ai nữa?

     Lòng tràn trề khát vọng đổi đời, hai thằng trai vai đeo ba lô, đầu mũ bông biên phòng bịt tai, chân đi giày vải cao cổ mua lại của bộ đội, tay dao quắm lăm lăm, hăm hở cắt rừng.

    Tôi không kể về quãng đường chúng tôi băng qua bạt ngàn lim già xanh đen. Rồi đến những khu rừng tạp giao rậm rịt đủ thứ cây chen chúc, vừa đi vừa vung dao mở lối. Lên cao thì rừng cứ thưa dần, cây cối nhỏ đi. Có cả một quãng rộng, chỉ toàn là tre trúc. Rồi lên cao nữa, chỉ còn những loài cây dại lúp xúp cùng với cỏ gianh. Những cái gian nan đó, với hai thằng thợ rừng đã khá lão luyện như Tư Thổ và tôi, quá bình thường.

     Nhưng cái đêm mà tôi và Tư Thổ ôm nhau ngủ trong lán. Trong rừng đêm giá rét tưởng đông cứng người lại thì, có lẽ tôi không bao giờ quên được.

    Chúng tôi đi khẩn trương. Khát thì vốc nước suối. Mệt thì nhấp ngụm rượu ở cái bi đông mang theo. Tôi cũng đã nhiễm thói quen uống rượu thay nước của dân vùng này. Đói lấy lương khô và thịt sấy gác bếp đã chuẩn bị sẵn ra ăn. Đi từ mờ sáng, đến lúc trời sắp tối, chúng tôi vẫn còn đang miên man trong rừng già. Tôi và Tư Thổ nhanh chóng chặt cây, phạt những cành lá móc, dựng thành một cái lều bên bờ suối. Lòng suối mùa khô chỉ còn tí nước róc rách, đầy những khúc cây gẫy ngổn ngang. Chúng tôi đi khuân về nhóm một đống lửa to để đuổi thú dữ và chống rét. Ăn uống xong, hai thằng nằm lăn ra sàn lều bằng cành cây, lót lá rừng, tự thấy cũng thú vị. Chúng tôi lan man tán chuyện. Từ chuyện hồi học dưới Hà Nội cho đến chuyện làng nọ bản kia. Rồi chuyện tán gái, như một lẽ đương nhiên giữa những thằng trai trẻ. Thỉnh thoảng một thằng dậy, đẩy những khúc cây vào giữa đống lửa cho cháy đượm. Về khuya, cánh rừng yên tĩnh kỳ lạ. Bất chợt, cả khu rừng xung quanh cùng bừng sáng. Những đốm lân tinh xanh lét trên thân cây mục lập loè ma quái. Thỉnh thoảng, tiếng thú rình mồi sột xoạt trong bụi cây. Một vài con chim đêm cất tiếng ai oán như tiếng những linh hồn bị bỏ rơi. Hai thằng trai to gan như tôi và Tư Thổ mà nằm nín thở, ôm chặt cứng lấy nhau, không thằng nào dám dậy đẩy củi vào đống lửa sắp tàn…

     Sáng hôm sau, chúng tôi lên đường sớm. Càng đi thấy đường càng rậm rịt. Cứ như chúng tôi đang lao đầu vào một mớ bùng nhùng những dây leo, gai góc, cây gẫy, tưởng như không có lối thoát. Mặc kệ, hai thằng chúng tôi thay nhau vung dao mở lối. Đá dưới lòng suối trơn nhẫy. Càng lên cao, lòng suối càng ít nước. Đến một quãng, dòng suối chỉ còn là cái khe đá khô cạn, thỉnh thoảng nhìn thấy vài giọt nước nhỏ ra như người ta cất rượu. Chúng tôi biết là sắp lên đến đỉnh. Hai thằng bỏ lòng suối cạn, leo sang sườn núi lởm chởm đá bò dần lên. Khi chúng tôi vừa chui vừa bò qua một dải rừng trúc, bỗng nhiên trước mắt thấy một khoảng cỏ tranh bạt ngàn, gió bắc lạnh buốt thổi ào ạt thành sóng, chấp chới rập rờn như biển. Đỉnh Mã Tử đã ngay trước mắt. Mệt, khát, lạnh, tai buốt do ảnh hưởng của độ cao, hai thằng chúng tôi nằm vật ra sườn núi thở dốc. Tôi vớ cái bi đông rượu đeo bên sườn lắc lắc, vẫn còn vài ngụm. Hai chúng tôi chia nhau những giọt rượu cuối cùng rồi vùng dậy, nhằm đỉnh Mã Tử lao tới. Tim chúng tôi tự nhiên đập dồn dập, tai ù ù, mặt bừng bừng. Hình như khát vọng đổi đời mãnh liệt đã tiếp sức cho hai thân thể đang kiệt quệ sau gần hai ngày leo rừng đến được đỉnh Mã Tử. Lúc ấy đang là giữa trưa. Trời rất quang, đỉnh núi không bị mây mù che phủ sáng bừng rõ ràng trên độ cao một ngàn tám trăm tám mươi ba mét. Một vùng lổm ngổm toàn đá muối xám xịt. Một thứ đá vô vị, hoàn toàn không có hy vọng gì mang ngọc trong đó. Không có một thứ gì khác. Trơ trọi. Một viên sỏi cuội lấp lánh cũng không. Cũng không có một cái hang truyền thuyết nào cả. Hoang vu. Cô lạnh. Vô dụng.

     Hai thằng chúng tôi nằm vật ra giữa đỉnh núi đá xám lạnh. Nằm rất lâu. Một nỗi thất vọng lớn đến nỗi tôi chỉ mong lúc ấy có một trận động đất nổ ra, làm cho cả thế giới này tan biến thành từng hạt bụi. Cả người tôi như đang rơi xuống một cái vực thẳm phiêu diêu. Gió mùa đông bắc bỗng nổi lên dữ dội. Mây đen từ đâu ào ào kéo đến. Cả đỉnh Mã Tử phút chốc chìm trong mây mù ướt át lạnh cóng. Chúng tôi vội chạy vào ẩn bên một tảng đá to. Nhìn nhau rét run cầm cập. Có lẽ sự thất vọng còn làm chúng tôi kiệt sức hơn cái giá rét. Chúng tôi thiểu não núp sau hòn đá, đầu óc hình như đờ đẫn, tê liệt. Nhưng rồi bản năng sống trước cái chết vì gió rét sắp hiển hiện bùng lên. Hai thằng chúng tôi run rẩy, răng đánh lốp cốp bàn nhau cách xuống núi. Nếu không, chắc chắn chúng tôi sẽ chết trên đỉnh Mã Tử. Theo như Tư Thổ nói, chúng tôi leo từ hướng tây lên rất hiểm trở. Nhưng nếu xuống núi theo hướng đông thì rất nhanh, vì núi bên đó dỡ dốc hơn và nửa đường, có lán của cánh sơn tràng, có thể vào tá túc. Chỉ có điều xuống chân núi rồi, sẽ phải đi bộ đường vòng mấy chục ki lô mét đường rừng để về bản Mền. Chúng tôi nhanh chóng quyết định xuống núi theo hướng đông. Lúc đó thằng nào cũng chỉ muốn nhanh nhanh ra khỏi cái đỉnh núi hoang cô lạnh. Chúng tôi, đi, bò, níu cây, trườn trên cỏ tranh, trượt trên đá. Có lúc ngã lăn lông lốc một quãng xa, vướng vào một búi cây, túm lấy, dừng lại rồi lăn tiếp. Mệt, đói, khát, đau đớn cùng mình. Không thằng nào nói với thằng nào, nghiến răng xuống tiếp. Đến gần tối thì bọn tôi nhìn thấy ánh lửa. Không tả được niềm vui sướng của những kẻ lạc rừng ban đêm nhìn thấy ánh lửa. Là cuộc sống. Là đồng loại. Là đường về quê mẹ. Tôi và Tư Thổ lết vào được lán sơn tràng ở sườn đông Mã Tử. Đến đây, coi như chúng tôi đã sống. Cánh sơn tràng nhìn thấy hai thằng chúng tôi tưởng là hai thằng người rừng lạc vào. Thế mà mới hai hôm trước, chúng tôi đang là những thằng trai đầy mơ ước của các cô gái Long Sơn. Tốp thợ rừng ấy rất tốt, họ cho hai thằng tôi ăn uống đầy đủ. Nghe chúng tôi kể về việc leo lên đỉnh Mã Tử tìm viên ngọc trời, cả bọn cười rung lán. Họ bảo hình như bọn tôi vừa tốt nghiệp trường ngu ba tháng ra. Ở trên cái đỉnh trơ toàn đá ấy thì có cái đéo gì mà tìm. Dân bên sườn đông chúng tao mùa hè chả lên hóng mát suốt. Đứng vạch chim ra đái một bãi rồi về. Cái dân bên sườn tây chúng mày u mê nên cứ tưởng trên đó là thiên đường. Thật lạ là đến giờ vẫn còn có người tin vào những điều hoang đường, nhảm nhí thế.

     Nằm ở lán sơn tràng hai hôm thì Tư Thổ hồi sức, chia tay tôi xuống núi về Long Sơn. Từ ấy trở đi tôi không gặp lại nó nữa. Nghe anh Vũ sau này thỉnh thoảng mang vợ con về quê chơi gặp, nói, sau vụ trèo lên Mã Tử, Tư Thổ về bản cưới vợ, yên trí làm vườn rừng. Giờ cũng rất khá.

      Còn tôi, nghe cánh sơn tràng nói là sẽ đóng bè để xuôi, sẽ qua khúc sông làng mình. Tôi bèn ngỏ ý xin ở lại làm với họ, để lúc về đến bến thì lên bờ. Cánh sơn tràng đồng ý ngay, vì tôi cũng thạo việc rừng mà họ cũng cần người làm.

      Thế rồi một tháng sau, chúng tôi đóng xong bè ở suối dưới chân núi. Chúng tôi bắt đầu xuôi. Từ suối nhỏ vừa kéo vừa đẩy ra suối lớn. Cái bè của chúng tôi cứ to dần ra theo độ lớn và độ sâu của dòng suối. Dọc đường, cánh sơn tràng dừng lại các điểm khai thác ghép vào bè thêm gỗ tre, luồng nứa và các thứ lâm sản. Dừng nghỉ ngã ba cửa Sông Xanh một thời gian. Đến khi ra đến Sông Lớn, thì đã là một cái bè to, trên bè có cả lều lán để ngủ.

      Tôi lại vô tình được sống một quãng đời giang hồ sông nước.

Đi bè rất vui, có rất nhiều chuyện hay. Nhưng tôi xin khất được kể hầu mọi người vào một dịp khác. Có điều, lững lờ trôi trên cái bè to dọc theo suối ra sông nhỏ, rồi đến sông to là một trải nghiệm thú vị với tôi. Lái bè trên sông rất nhàn, chỉ cần hai người ngồi đầu và cuối để lựa cho trôi đúng dòng là ổn. Còn bọn khác cứ việc nằm khểnh. Thời gian bồng bềnh sông nước, tôi cứ nằm nghĩ lan man. Tôi thấy cuộc đời mình mấy tháng vừa rồi, trải qua những cảm xúc như hai mươi mấy năm dồn lại cũng không bằng. Từ một thằng sinh viên ở thủ đô, dù có đói nhưng vẫn còn sướng chán, tôi về quê, làm xã viên hợp tác xã. Rồi tôi trở thành một tay trai bản chính hiệu, đốn gỗ, làm nương, băng rừng cắt núi thành thạo. Rồi suýt bỏ mạng trên núi lạnh trong một cuộc tìm kiếm ngớ ngẩn. Tôi lại thành ra một kẻ giang hồ sông nước, gần như một tên du thủ du thực. Thật kỳ lạ. Nằm bồng bềnh trên bè xuôi sông, nhiều lúc tôi cứ nghĩ những cái vừa trải qua không thật. Như trong một giấc mơ. Nhưng khi những cái đói, cái lạnh, những gian nan đi qua rồi, tôi lại thấy những núi sông mình vừa được đi qua thật đẹp, thật hùng vĩ. Những con người mình gặp gỡ trên đường cũng tốt, hồn hậu như dân quê mình, tuy có đôi lúc thô nhám cộc cằn.

      Hôm bè về đến bến sông quê là một ngày xuân ấm áp. Tôi từ biệt mọi người lên bờ. Đúng vào lúc mẹ tôi cũng ra sông gánh nước tưới rau. Mẹ ôm chầm lấy tôi nức nở: “Ôi, mẹ đã tưởng mất con rồi chứ. Con đi đâu mà biệt tăm cá thế con. Ơn trời ơn phật con đã về.”  Mẹ còn nói thêm những gì nữa, tôi hầu như nghe chẳng rõ. Tôi chỉ biết là mẹ vui.

     Tôi nhìn nét mặt rạng rỡ vui tươi của mẹ mình. Nhìn ra sau lưng mẹ là cánh bãi ngô rau đang xanh mướt lạ lùng. Rồi tôi nhìn ra dòng nước, thuyền bè tấp nập rộn rã ngược xuôi. Tiếng còi hụ rền vang vui vẻ. Bên bến sông làng tôi đã lại thấy thuyền về neo đậu. Những con chim én, chim nhạn chao liệng lên xuống tung tăng mặt nước ngày xuân tràn nắng.

(đọc tiếp phần sau: BUÔNG)

                                                                         12/2014.

Đánh giá

LONG SƠN TỨ TRUYỆN

Mục lục bài viết

Chả là trường tôi, thường hay cho sinh viên làm khoá luận và thi tốt nghiệp vào mùa hè. Những sinh viên thi không đỗ, nhà trường sẽ tổ chức thi lại vào mùa thu. 

1057
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
11-01-2021
GIỚI THIỆU SÁCH

GIỚI THIỆU SÁCH

GIỚI THIỆU SÁCH

GIỚI THIỆU SÁCH

GIỚI THIỆU SÁCH

NGƯỜI KỂ CHUYỆN KINH BẮC

  • KHÁNG KHÁNG SINH

    Kể từ khi tìm ra kháng sinh (1928), với việc quý ngài Alexander Fleming chiết suất được Penicillin, nền y học của nhân loại đã có một bước nhảy khổng lồ. Rất nhiều căn bệnh nan y, gây chết người trước kia đã được giải quyết. Tuổi thọ và chất lượng cuộc sống loài người đã tăng lên rõ rệt. Kháng sinh trở thành một loại thuốc thiết yếu, không thể thiếu của y khoa hiện nay...

    Lượt xem: 629
  • NAN ĐỀ CỦA THỜI HIỆN ĐẠI

    Thực ra thì không phải đến thời hiện đại mới có bệnh đái tháo đường, mà căn bệnh này đã được y văn cổ đề cập đến từ lâu. Các sách “Hoàng đế nội kinh” hay “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” đều đề cập đến chứng “tiêu khát”, một biểu hiện lâm sàng rõ rệt nhất của căn bệnh này. Nhưng chỉ đến thời hiện đại, có thể do thay đổi môi trường sống, do cường độ làm việc, lối sống sinh hoạt…, căn bệnh đái tháo đường dường như mới bùng phát dữ dội.

    Lượt xem: 164
  • Những lưu ý khi tiêm vaccine Covid-19 với bệnh nhân tiểu đường, tăng huyết áp…

    Vài lời mở đầu: Tôi là một dược sĩ và là một nhà văn, trong cả hai vai trò rõ ràng tôi phải quan tâm đến đại dịch Covid-19 đang diễn ra trên đất nước ta và cả thế giới. Sự quan tâm của tôi đến thế nào, bạn có thể tìm hiểu các bài viết của tôi trên báo chí, facebook kể từ khi dịch nổ ra bên Vũ Hán, Trung Quốc cho đến nay sẽ rõ.

    Lượt xem: 646
  • LƯU Ý KHI DÙNG THUỐC HO

    Đặc biệt là khi bị nhiễm virus gây covid. Thường thì có đến 80% số ca dương tính không xuất hiện triệu chứng gì. Không phát thành bệnh. Nhưng nếu phát thành bệnh sẽ có các triệu chứng điển hình: sốt, đau họng, ho, đau mình mẩy, khó thở, mất khứu giác...

    Lượt xem: 3988
  • QUAN ĐIỂM CỦA TÔI

    Về tình trạng hiện nay ở một số nơi trên nước ta, nhiều người đã được tiêm vaccine mũi 1 là moderna, đến kỳ tiêm mũi 2 nhưng không có moderna nữa. Vậy phải làm sao?

    Lượt xem: 1615
  • ĐỊA LONG LÀ GÌ?

    Là con giun đất. Chính xác. Các cụ nhà ta, nhất là cánh nho sĩ, thầy lang xưa có cái "tật" hay gán cho các con vật, đồ vật vốn bình thường dân dã những cái tên "tự" Hán Việt thật kêu, cho sang mồm. Con giun đất, gọi là địa long, nghĩa là rồng đất, quá oai!

    Lượt xem: 760
  • Vật chủ bất đắc dĩ

    Trong Y học, có một thuật ngữ quen thuộc “vật chủ truyền bệnh”, xuất phát từ thuật ngữ “vật chủ” trong môn Sinh học. Đây là một thuật ngữ chỉ về những sinh vật có nuôi dưỡng sinh vật khác, theo các dạng quan hệ ký sinh, cộng sinh hoặc hội sinh, cung cấp dinh dưỡng, nơi trú ẩn hoặc đôi khi là bảo vệ lẫn nhau.

    Lượt xem: 1083
  • Nhận thức lại về covid

    Khi đại dịch covid-19 nổ ra ở Vũ Hán, Trung Quốc tháng 11/ 2019, cả thế giới bàng hoàng. Không hiểu điều gì đang xảy ra nơi đây. Đến khi Trung Quốc chính thức công bố về dịch, lập tức các nhà khoa học của cả thế giới đã vào cuộc nghiên cứu về con virus gây bệnh có định danh là Sars- CoV-2 này.

    Lượt xem: 695
  • Placebo và dịch covid-19

    Placebo, thuật ngữ khoa học quên thuộc của giới y-dược khoa, nó xuất phát từ nguyên ngữ Latin, có nghĩa là “tôi sẽ làm hài lòng”. Còn hiểu một cách nôm na, có thể gọi là “hiệu ứng giả dược”: nghiên cứu những đáp ứng của cơ thể khi được cho dùng “giả dược”.

    Lượt xem: 640
  • KÍNH GỬI: Các thầy thuốc tuyến cơ sở vùng dịch.

    -Thưa các bạn,
    Tôi được biết tình hình trong vùng dịch miền Nam, đặc biệt là tp. Hồ Chí Minh đang rất căng thẳng. Bệnh viện quá tải, các thầy thuốc nhân viên y tế tuyến đầu mệt mỏi. Đâu đó đã xảy ra những cảnh thảm thương: bệnh nhân covid kêu cứu không có người trợ giúp, chết tại nhà, nhất là với những bệnh nhân nghèo.
    Thật đau lòng.
    Lượt xem: 568

  • Có nên dùng cao hổ cốt không?

    Với y học hiện đại, cao hổ cũng như cao xương các loại động vật khác, thường không được xếp loại là thuốc, mà chỉ là thực phẩm chức năng, có tác dụng cung cấp acid amin cho cơ thể.

    Lượt xem: 270
  • Đã có thuốc đặc trị Virus Corona chưa?

    Các thầy thuốc trên khắp thế giới vẫn đang mầy mò để tìm ra một thứ thuốc, một phác đồ điều trị khả dĩ nhất cho căn bệnh này. Nghe có vẻ căng phải không các bạn?

    Lượt xem: 235
  • Nhân chuyện Nước Mắm, nói về Histamine.

    Trong cá, Histamine sinh ra do một acid amine có tên là: Histidine phân hủy mà thành, acid amin Histadine đặc biệt cao trong một số loài hải sản như cá ngừ, cá thu, cá nục...

    Lượt xem: 182

  • Tiểu thuyết: QUÁI NHÂN LÀNG NGỌC (phần 7)

    Mạnh Hoạt ở tù ba năm rưỡi, đủ một ngàn hai trăm bảy mươi tám ngày chẵn. Thừa ra nửa ngày, vì án tù của hắn bảy năm, giảm tối đa còn ba năm rưỡi.
  • Tiểu thuyết: QUÁI NHÂN LÀNG NGỌC (phần 6)

    Trong chiến tranh, chỉ cần vài tạ thuốc nổ, vài giây, với vài người, là thổi bay một cây cầu. Nhưng để xây lại được một cây cầu qua sông, người ta phải mất vài năm với hàng ngàn con người lao động miệt mài.
  • Tiểu thuyết: QUÁI NHÂN LÀNG NGỌC (phần 5)

    Mỗi bài thơ của hắn viết ra, cũng dễ dàng như khi hắn làm tình với một em nào đó gặp trên đường lang thang giang hồ vặt. Nhưng với em nào hắn cũng diễn bài mê muội và đắm đuối như thật.
  • Tiểu thuyết: QUÁI NHÂN LÀNG NGỌC (phần 4)

    Dân gian thường hay gọi đó là kẻ ngộ chữ, hay nhẹ hơn, gọi là nghiện chữ. Cái bệnh nghiện chữ ấy đã khiến cho không ít kẻ sĩ nước nam ta từ cổ chí kim thân tàn ma dại.
  • Tiểu thuyết: QUÁI NHÂN LÀNG NGỌC (phần 3)

    Mạnh Hoạt mê đọc sách. Những lúc mẹ đi làm đồng hoặc đi chợ, Hoạt ở nhà chúi đầu vào cái tủ sách to tướng của ông cha để lại mê mải đọc.
  • Tiểu thuyết: QUÁI NHÂN LÀNG NGỌC (phần 2)

    Thời chiến tranh, nay sống mai chết, hôm nay còn ở ngoài Bắc, mai đã vào tít trong Nam. Hôm nay còn đang sống ngoay ngoảy, mai đi ngoài đường,..
  • Tiểu thuyết: QUÁI NHÂN LÀNG NGỌC (phần 1)

    Mạnh Hoạt, người xóm ngõ Ghen, Làng Ngọc. Một tay chơi nức tiếng vùng Kinh Bắc. Biết đủ ngón nghề cầm kỳ thi họa, đẹp giai, hát hay. Hắn lại biết làm cả thơ nữa...

  • Hoa gạo tháng ba (Phần cuối)

    Chiều nay, Giang cũng nói với nàng là hãy đợi. Ngồi bên Giang trên bến sông, nhìn nghiêng qua gương mặt thanh tú đẹp đẽ của Giang, nàng đã thầm thốt lên trong lòng, Giang ơi, nếu anh yêu em đến thế, sao anh không mang em đi cùng ngay tức khắc. Nhưng Giang vẫn nói em hãy chờ anh, hãy chờ, hãy chờ. 
  • Hoa gạo tháng ba (Phần 2)

    Nhìn hai anh em ngồi câu, My đã định ra chơi cùng, nhưng My lại thấy ngại ngần rồi thôi. Ngày My còn bé, Tràng là người đầu tiên khai tâm cho My về chữ quốc ngữ. Mỗi khi My ghép được một từ, Tràng hay xoa đầu khen My giỏi. Hôm Tràng bị quan Tây bắt giải đi, My chạy sang nhà ông lang Khiết, khóc nức nở..
  • Hoa gạo tháng ba (Phần 1)

    Hôm lính trên phủ cùng với chánh tổng Dương Hữu Cầu, mang tú Tràng về nhà ông lang Vương Văn Khiết trả người, mẹ Tràng là bà lang Khiết hoa mắt, cứ tưởng là quan trên nhầm người. Bốn năm đi tù ngoài Côn Đảo đã biến tú Tràng từ một anh học trò xanh mướt, thành ra một người đàn ông rắn rỏi, vạm vỡ, phong trần.
  • BUÔNG (phần tiếp theo của LONG SƠN TỨ TRUYỆN)

    (phần tiếp theo của LONG SƠN TỨ TRUYỆN)Cố trấn tĩnh, tôi lái xe về nhà đón vợ đưa sang bệnh viện cùng con gái. Ngồi ngoài phòng chờ mà tôi cảm thấy như ngồi trên một đống lửa hay là đang bị một đám gai nhọn vây kín quanh người...
  • LONG SƠN TỨ TRUYỆN

    Chả là trường tôi, thường hay cho sinh viên làm khoá luận và thi tốt nghiệp vào mùa hè. Những sinh viên thi không đỗ, nhà trường sẽ tổ chức thi lại vào mùa thu. 
  • Giỗ hậu (Phần 3)

    Chuyện Vũ chồng nàng chết bất đắc kỳ tử ngay khi đang giao hoan, gia đình nhà ông Đồ Lận đổ hết lỗi cho nàng. 
  • Giỗ hậu (Phần 2)

    Cả làng này, chưa thấy ai chiều con gái như ông Lư. Con ông đòi gì thì cho dù nửa đêm gà gáy ông cũng vùng dậy đi kiếm cho bằng được. 

VIDEO PHỎNG VẤN

VIDEO PHỎNG VẤN

  • CÔ GIÁO ĐẦU TIÊN

    Những nét chữ phấn trắng nguệch ngoạc đầu tiên của tôi trên cái bảng gỗ bố tôi tự làm và đánh bằng lá khoai lang trong vườn cho đen, chính là từ bàn tay chị Nghiên cầm dạy cách tô viết bằng viên phấn trắng. Tôi vẫn nhớ như in những cái chữ O, Ô, Ơ...đầu đời vẽ ra ấy. Chị còn hay gọi và cho tôi cùng đi ra chùa học. Tôi nhớ ngày xưa tóc chị dài và đẹp, mấy anh bộ đội về làng đóng quân mê lắm. Hình như hai bác tôi không cho chị lấy chồng xa...

    Lượt xem: 22
  • BÁN SÁCH!

    Ấn phẩm BẾN CHIA LY, tuyển tập truyện ngắn kỷ niệm 10 năm "đổ đốn" đi viết văn (2012-2022) của tôi, bản in của Nhà xuất bản Vipen, CHLB Đức dành cho thị trường trong nước đã có ở Việt Nam.
    Mời các bạn đăng ký mua để đọc và vui cùng nhà văn trong dịp đặc biệt này.
    Mua một cuốn BẾN CHIA LY với giá 200.000 vnđ/1 cuốn, bạn còn được tặng thêm tập ĐẠI GIA VÀ BA BÀ VỢ, tác phẩm đầu tay (bản in lại năm 2016).
    Hai cuốn đều có chữ ký và triện của tác giả, miễn phí ship trong nước.
    Lượt xem: 83
  • BÃI NGUYỆT BÀN: nơi diễn ra Hội nghị Bình Than.(11/1283)

    Chính xác hơn, có thể gọi là đảo, bởi bốn bề sông nước Lục Đầu vây quanh.
    Đây là một bãi đảo thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Nằm trọn trong vùng LỤC ĐẦU GIANG. Xã Cao Đức xưa có tên là ĐẠI THAN.
    Phía trên một xíu là bến đò Bình Than, nay đã có cầu thay thế. Phía dưới là sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, hai con sông nhận nước của bốn con sông mang chữ ĐỨC từ vùng Kinh Bắc đổ vào, xuôi ra phía biển: vùng sáu (lục) con sông gặp nhau.
    Lượt xem: 101

videotogif_2021.05.14_21.18.27
videotogif_2021.05.14_21.34.06
gif_20210514_210001
VIDEO CLIP

20211113_01351520211113_01371320211113_01364420211113_013744nhavantranthanhcanh20211031_22051320211113_01361920211113_15312320211113_15314020211113_01361920211113_01360720211115_00563820211115_00562220211115_00561020211115_00553020211115_00552120211115_00545220211115_00543920211118_16004320211118_16003120211118_160018fb_img_1637961528075fb_img_163796146879720211127_15591620211127_042028
nhavantranthanhcanh20211031_22051320211113_01361920211113_01360720211113_15314020211113_15310720211113_15312320211113_01361920211115_00563820211115_00562220211115_00561020211115_00543920211115_00561020211115_00554220211115_00552120211113_153123fb_img_1637961528075fb_img_163796146879720211127_15591620211127_042028
20211113_014855box-011nhavantranthanhcnh5520211113_01361920211113_15314020211113_15310720211113_15312320211113_01360720211115_00563820211115_00562220211115_00561020211115_00554220211115_00552120211115_00545220211115_005439fb_img_1637961528075fb_img_163796146879720211127_15591620211127_042028
QR truy cập web
nguoikechuyenkinhbac.codeqr

 BẢN QUYỀN THUỘC VỀ NHÀ VĂN TRẦN THANH CẢNH. 

KHÔNG SAO CHÉP KHI CHƯA ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ.

 

Lên đầu trang