Đêm xuân. Quan họ giã bạn. Lả lơi, tình tứ, giằng níu.
Người về ta chẳng cho về
Ta níu vạt áo ta đề câu thơ
Người về ta dặn câu này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ sang
Quan họ Làng Ngọc hát canh giã bạn, tiễn bọn quan họ làng Lãng ra về.
Làng Ngọc cách làng Lãng con sông Thiên Đức. Xưa, bến đò Bình nối hai làng. Có ông chèo già và con đò gỗ vẫn bồng bềnh khuya sớm qua sông, mỗi khi có tiếng gọi đò ơi…
Nay ở phía trên sông, nhà nước bắc cây cầu sắt to ngang qua. Từ Làng Ngọc sang làng Lãng phải đi ngược một quãng đê. Qua cầu, rồi lại xuôi xuống, hơi vòng, nhưng vẫn nhanh hơn chèo đò kẽo kẹt chán.
Từ ngày có cầu, ông đò chả biết đi đâu. Nhưng bãi sông bến nước hai làng vẫn như xưa. Từ làng, qua đê, rồi qua một dải cánh bãi phù sa, đến bờ sông. Mùa xuân, mưa xuống, cỏ cây hoa lá như có phép lạ, chỉ sau một đêm đã phủ kín bãi bờ một màu xanh tươi non óng ả mát mắt. Dưới ruộng, những cây ngô cây đậu vừa ngơ ngác đội đất đêm qua, màu xanh mơ của búp vẫn như còn vương vất chút phù sa mới. Trên bờ vùng bờ thửa, những cây cỏ gấu, cỏ gianh, cỏ gừng, cỏ chân gà, đua nhau chen chúc nhú những mầm xanh nhọn lên đón mưa xuân. Những bụi cỏ mía ngọt ngào, dõng dạc trổ những thân non mập mạp, như muốn đua cùng với mấy bụi lau sậy rập rờn gần nơi mép nước. Trên sườn con đường cái chạy từ dốc đê xuống bến sông, những búi cây yến bạch mọc tràn ngập hai bên vệ đường. Lắm chỗ mọc lan cả vào lối đi của người xuống bến. Vào mùa đông, những bông hoa yến bạch, mọc thành chùm ở đầu cành, mỗi bông to bằng đầu ngón tay út. Nở tràn một màu trắng đục có pha thêm sắc tím mờ. Con đường xuống bến thành như một dải lụa trắng chấp chới pha tím mơ màng.
Vùng Kinh Bắc có tục hát quan họ giao duyên. Những dịp cưới xin, hội làng người ta tổ chức hát thâu đêm suốt sáng. Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn. Liền chị nón ba tầm quai thao, áo năm thân say mê ứng đối hát xướng. Hát từ cửa đình, rồi dập dìu đến đầu làng, bến sông. Anh hai hát với chị hai, anh ba hát với chị ba. Hát một đêm, hát một mùa hội xuân, hát một năm, rồi hát cả một đời. Vẫn cứ say mê, tình tứ những nhớ thương da diết, lả lơi. Bởi bao tình để cả vào câu hát. Chỉ là câu hát thôi. Chỉ là ánh mắt tình tứ trao nhau. Chỉ là cái nắm tay, cái vạt áo, cái quai thao. Sớm mai, anh hai lại về nhà lo việc đồng áng đỡ đần vợ con. Chị hai lại ngược xuôi chợ Giàu, chợ Núi, chợ Chờ đảm đang buôn bán nuôi chồng nuôi con. Để đêm hội, anh hai chồng lại đi hát với chị hai làng bên. Chị ba vợ lại đánh mắt dao cau với anh ba bạn mình mà buông câu hát:
Lóng lánh là lóng lánh ơi
Mắt người lóng lánh như sao trên giời…
Anh ba cất giọng đối:
Lúng liếng là lúng liếng ơi
Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền…
Người quan họ đã kết bạn hát với nhau là suốt đời và không bao giờ lấy nhau. Chồng có bạn hát riêng, vợ cũng có bạn hát riêng. Chỉ hát mà thôi.
Làng quan họ có tục kết chạ với nhau, như là bây giờ người ta gọi là kết nghĩa. Hai làng như một. Công việc của làng này thì làng kia đến thăm hỏi đỡ đần. Rồi hát xướng thù tạc rượu chè với nhau. Lệ cấm trai gái hai làng lấy nhau.
Làng Ngọc kết chạ với làng Lãng, bên kia sông Thiên Đức, cách một con đò.
Lâu lắm rồi, hai làng không có đôi nào dám phá lệ xưa.
Thế mà nay, thằng Hiệp, trai Làng Ngọc yêu con Lan, gái làng Lãng. Một hai đòi sống chết lấy nhau.
Thằng Hiệp con Lan, cùng học phổ thông. Cùng đi học đại học ngoài Hà Nội. Rồi cùng lập nghiệp đất kinh kỳ. Yêu nhau lúc nào chả rõ. Nhưng chúng không biết hát quan họ. Chúng chẳng nhớ lời người xưa.
***
Mà người xưa kể rằng…
Xưa lắm rồi.
Từ khi cái giống cây yến bạch mọc tràn lan trên sườn đê, hai vệ đường ra bến sông chưa có ở đất này. Sườn đê, hai bên vệ đường cái, rồi bờ vùng bờ thửa khi ấy. Mỗi dịp đông, là tràn một màu trắng dịu dàng có pha thêm chút vàng của hoa xuyến chi. Chị Miên, con gái út ông trưởng bạ Toản rất thích hoa xuyến chi. Mỗi chiều đi gánh nước tưới ngô tưới rau bên cánh bãi, thế nào chị cũng hái một bó to hoa xuyến chi, về cắm vào cái lọ đất nung Phù Lãng mà mẹ chị hay để muối cua và làm mắm tép. Nhà chị khá phong lưu trong làng. Vườn ông trưởng bạ Toản có đủ hoa hồng, cúc đại đóa, hoa quỳnh, hoa nhài, hoa sói. Mẹ chị mắng yêu con gái: “Cái con dở hơi này, bao hoa đẹp trong vườn không hái mà chơi, lại đi thích mấy bông hoa dại”. Nhưng mà bố mẹ chị yêu chiều cô út. Chị Miên hát hay lại xinh đẹp nhất làng. Mỗi buổi chiều tà, khi chị xắn váy quai cồng, để lộ đôi bắp chân thon trắng ngà như cái củ sen, khoát đôi nồi đất lấy nước dưới bến sông lên tưới rau, trai Làng Ngọc đang cày bãi xung quanh, ngẩn ngơ buông tay chả thiết gì vắt diệc giục trâu nữa. Nhiều nhà danh giá trong vùng, đánh tiếng ướm hỏi chị Miên về làm dâu. Chị bảo chưa lấy chồng, năm ấy chị mười sáu tuổi. Chị chỉ thích đi hát quan họ, nhất là đi đò sang bên Lãng hát với bọn quan họ bên ấy. Bọn quan họ Làng Ngọc nói, chị mê anh Hoạt bên Lãng. Lần nào hát xong cũng cứ dùng dằng, nấn ná mãi chả xuống được đò. Trong bọn quan họ Làng Ngọc, chị Miên đã được gọi là chị ba. Vì chị trẻ, xinh nhất làng mà lại hát hay, thuộc nhiều điệu. Bên quan họ làng Lãng, anh Hoạt cũng được gọi là anh ba. Vì giọng hát của anh rất tình. Mà năm đó, anh cũng chỉ mới mười bảy tuổi.
Anh Hoạt là con cụ phó cả Huệ, thợ mộc chuyên dựng nhà bên Lãng. Anh cũng theo nghề cha. Có lẽ làm thợ mộc, ngực nở, nên giọng hát của anh vang rền. Đứng ở bến sông mà anh ba Hoạt cất giọng:
Có ai xuôi về
Cho tôi nhắn
Cho tôi gửi
Đôi nhời này…
Chị ba Miên hòa lại bằng giọng trong vắt:
Người về để con nhện nó mới giăng mùng
Đêm năm canh tôi luống chịu lạnh lùng…
Thì đến ông chèo già cũng ngẩn ngơ, bảo, ngày xưa Trương Chi, Mỵ Nương cũng chỉ hát hay đến thế. Ông lơi tay để cho họ hát nốt bài thương nhớ rồi mới chèo tiếp.
Nhưng chuyện chị Miên yêu anh Hoạt thì cả hai làng xôn xao. Hai làng kết nghĩa anh em, trai gái không được lấy nhau. Thế mà anh Hoạt chị Miên một hai thề thốt sống chết có nhau. Làng xóm rồi hai gia đình nói thế nào cũng không được.
Một lần sang bên Lãng hát hội, khi giã bạn, trên đường ra bến sông, anh Hoạt chị Miên cố tình tụt lại sau bọn quan họ một quãng xa. Anh cầm cả hai tay chị Miên bảo:
- Miên ạ, tôi không thể sống thiếu Miên được. Kệ cho hai nhà nói gì. Kệ cho hai làng phạt vạ cái gì tôi cũng quyết đón Miên về bên này mới thỏa.
Chị Miên không nói gì, chị chỉ ngước đôi mắt đen láy long lanh nhìn anh Hoạt, rồi úp mặt vào vai anh. Hồi lâu, chị nói nhẹ như gió thoảng:
- Vâng, tùy anh. Em đợi.
Rồi chị vùng chạy theo bạn quan họ Làng Ngọc, đang sắp sửa xuống thuyền.
Thế rồi, cơ man nào những giông gió đổ lên đầu đôi trẻ. Nhưng mà có nói thế nào thì cả hai cũng chỉ một mực là xin được ở với nhau. Khuyên răn mãi chả được, hai làng đâm chán, họ bảo rằng kệ cái lũ cố thây. Nhưng mà người quan họ người ta không cay nghiệt. Cha mẹ đẻ hai bên nói không được, thì đành bảo: “Cá không ăn muối cá ươn, con không nghe cha mẹ trăm đường con hư. Lệ làng đã định. Cha mẹ hai bên đã can ngăn đủ nhẽ. Chúng mày cứ quyết thì đón nhau về mà ở, không cưới xin gì hết. Sau này sướng khổ đừng có kêu ai”.
***
Đám tang thằng Hiệp, con Lan cùng vào buổi sáng hôm mười sáu, đúng phiên chợ Dâu. Nghĩa địa Làng Ngọc và nghĩa địa làng Lãng nhìn nhau qua con sông Thiên Đức. Đám tang chết trẻ thảm lắm. Không có những tiếng khóc hờ cất lên. Chỉ là những tiếng khóc chết nghẹn trong ngực, trong tim. Ấm ức, thổn thức. Những đau đớn không bung ra được. Thỉnh thoảng, lại có người ngã vật ra đường, lại có người rú lên thê thiết. Không biết hai nhà có xem giờ không, mà hai đám đưa cùng một lúc. Khi hạ huyệt, tiếng trống dồn: tùng tùng… tùng, tùng tùng… tùng… Tiếng phèng la phụ họa ai oán: cheng cheng… cheng, cheng cheng… cheng. Tiếng đất rơi xuống quan tài trầm đục khô khan. Tất cả những âm thanh ghê rợn của hai đám tang hai bên bờ sông, vang vọng, quyện vào nhau làm một. Đau đớn, đặc quánh, âm u, lẩn quất như không tan đi được trên dòng sông xám lạnh của mùa đông giá rét. Những người đi chợ Dâu, qua sông sáng ấy đứng lại hết cả trên cầu. Ai cũng đỏ hoe mắt. Không ai đi nổi.
Chiều hôm qua, thằng Hiệp chở con Lan bằng xe máy từ Hà Nội về. Van xin hai gia đình lần cuối. Chúng nó yêu nhau gần mười năm rồi, từ hồi mới học lớp mười một cơ. Khi mà chúng dắt nhau về xin phép hai gia đình cho cýới. Cả hai làng đều bảo, trai gái Làng Ngọc không lấy được gái trai làng Lãng đâu con ơi. Ngày xưa có đôi khăng khít lắm, nhưng mà chưa được ở với nhau ngày nào đã chết đuối trên sông. Sau này, có đôi yêu nhau quá, gạo nấu thành cơm rồi. Về ở với nhau được vài hôm thì cũng ly dị. Không được đâu con ơi.
Bố con Lan nổi tiếng là nóng tính. Hai đứa dắt nhau phủ phục trong nhà hai tiếng đồng hồ mà cũng không lay chuyển được gì. Lâu, ngứa mắt quá, ông ấy mới quát: “Nói hết nước hết cái mà chúng mày không nghe thì cút đi đâu thì đi cho khuất mắt tao. Từ giờ đừng có về làng nữa”.
Hai đứa vùng dậy, phóng xe lên đê, qua cầu sông Thiên Đức định về Hà Nội. Lúc ấy nhập nhoạng tối. Chúng quên không bật đèn xe máy. Ra đến giữa cầu, một cái xe ô tô chở cát san lấp mặt bằng khu công nghiệp gần đấy, cũng không bật đèn vì đang chạy trộm công an, đâm thẳng vào nhau. Thằng Hiệp con Lan chết không toàn thây, cái xe máy nát vụn.
Bố con Lan ngất lên ngất xuống, đấm ngực thùm thụp, khóc không ra hơi: “Tại tôi… tại tôi… tôi đuổi con tôi đi… tại tôi…”
***
Năm xưa.
Hôm anh Hoạt sang đón chị Miên về thì chả có con đò ngang nào chịu đi.
Đêm ấy mùa đông nhưng trăng sáng. Anh Hoạt mới ra bến sông lấy đò, tự chèo sang. Trai làng Lãng và gái Làng Ngọc sinh ra lớn lên bên bờ sông Thiên Đức vốn giỏi nghề bơi lội, chèo thuyền. Sang bãi sông Làng Ngọc, anh Hoạt hái một bó to hoa xuyến chi, vào cổng nhà chị Miên đánh tiếng. Chị Miên nghe tiếng người yêu đến đón, khoác cái tay nải quần áo, rồi chạy ra: “Lạy thày mẹ con đi…” Ông trưởng bạ Toản nằm quay mặt vào tường thở dài. Mẹ chị Miên trong buồng dấm dứt khóc: “Con ơi là con, đường quang con không đi…”
Đôi tình nhân dắt tay nhau chạy băng băng qua đê, qua cánh bãi rộng xuống đò. Anh Hoạt đứng chèo đằng cuối thuyền. Chị Miên ôm bó hoa xuyến chi ở ngực, ngồi đằng mũi quay mặt lại ngắm anh Hoạt chèo đò. Đến giữa dòng, trời bất chợt chuyển mình, một cuộn gió mùa đông bắc ào đến như cơn lốc khiến chiếc thuyền tròng trành. Chị Miên bị bất ngờ, ngã xuống sông. Anh Hoạt lao theo cứu. Nhưng cơn gió to quá, nước sông mùa đông lại lạnh, họ chẳng bao giờ lên được thuyền để sang bờ bên kia nữa.
Hai nhà thuê câu rà mấy ngày sau mới vớt được xác anh chị ấy. Thấy kể là vớt lên, hai người vẫn quấn chặt lấy nhau, tay chị Miên vẫn còn cầm bó hoa xuyến chi không rời.
***
Thằng Hiệp con Lan chết trẻ nên chôn nhanh lắm. Ở làng vẫn thế, chết trẻ mà để lâu, người sống càng đau lòng, không chịu nổi. Bọn bạn học hồi phổ thông của hai đứa nghe tin chạy về viếng thì đã lấp mộ. Chúng không kịp mua cho hai đứa một vòng hoa trắng. Bọn bạn trai đi hái hai bó to hoa yến bạch đang nở bạt ngàn trên triền đê. Bọn bạn gái mang một bó sang đặt trên mộ Lan bên kia sông, cùng thắp hương. Hương tàn, chúng kéo nhau lên cầu, chỗ hai đứa chết, vái lạy. Rồi thả cả hai bó hoa xuống sông.
Hai bó hoa dập dềnh trên dòng nước mùa đông lạnh xám, quẩn vào nhau, lững lờ bình thản trôi xuôi.
Thằng Hiệp con Lan, vốn có biệt danh trong lớp là đôi chim yến bạch. Năm lớp mười một, vào buổi tối đi học thêm môn hóa ở nhà cô Hoa. Chả biết hai đứa dấm dúi với nhau ở bãi sông thế nào mà, khi vào lớp, đầu tóc chúng toàn một thứ màu trắng ngà pha sắc tím của những cánh hoa yến bạch nhỏ li ti. Cô Hoa bảo, hai anh chị vào toa lét soi gương, chỉnh đốn dung nhan rồi hãy ra học. Thế là bọn bạn trong lớp tán, trêu, rồi gán tên cho hai đứa là đôi chim yến bạch.
***
Đã lâu lắm rồi, không thấy có đám cưới nào giữa hai làng bên sông nữa. Lạ một điều là trai gái hai làng ấy hình như vẫn thích nhau, vẫn chơi với nhau. Bọn trẻ thầm thì rằng vẫn có nhiều đôi mê nhau lắm mà không dám tiến xa. Chúng cũng sợ dang dở. Bọn trẻ hai làng bây giờ nhiều đứa không biết và cũng không thích hát quan họ. Nhưng hai làng vẫn đi lại khăng khít như xưa. Hội Làng Ngọc và hội làng Lãng, hai bên vẫn giao lưu rất vui.
Canh quan họ giã bạn ở hội Làng Ngọc tiễn làng Lãng vẫn được khách thập phương khen là ngọt nhất vùng.
Khi chị cả, chị hai cất giọng trong như tiếng chuông tiếng khánh:
Người về em những khóc thầm
Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa
Thì anh cả, anh hai nối theo bằng âm thanh vang rền của lồng ngực trẻ:
Người về anh những trông theo
Trông nước, nước chảy, trông bèo, bèo trôi
Rồi cả liền anh liền chị hai làng lại hòa vào nhau lời hát ngọt ngào, huê tình, say đắm lòng người. Những người trong cuộc hát, trong hội, như mê đi trong cái du dương của ánh mắt, của điệu nhạc, của lời hát trong vắt, vang rền nền nảy trong đêm xuân:
Người về ta có dặn rằng
Đâu hơn người kết bạn
Đâu bằng người đợi chúng tôi…
***
Lời người kể chuyện:
Câu chuyện trên hoàn toàn có thật, xảy ra tại hai làng ở vùng Kinh Bắc. Sông Thiên Đức là tên chữ chứ thật ra gọi nôm là sông Đuống. Cũng tương tự như vậy, cây hoa yến bạch là một loại cây dại mọc tràn lan ở bờ sông, triền đê, vệ đường. Loài cây này nguyên là một thứ ngoại lai, theo người Tây vào nước ta khoảng non trăm năm nay. Người ta gọi nó là cây cỏ lào, cây bớp bớp hoặc đơn giản là cây phân xanh. Là vì, thứ cây này chuyên được nông dân cắt, băm vụn ra bón ruộng. Có điều, lâu nay phân hóa học rất nhiều nên chả ai mất công đi làm phân xanh nữa. Thế nên, giống cây này được thể mọc càng nhiều. Nhưng mà đến mùa đông, khi cả một triền đê nở ngập một thứ hoa dại màu trắng ngà, pha chút tím mơ màng, cũng đẹp đấy chứ.
Còn loài hoa xuyến chi, mặc dù bị giống cây kia lấn át nhưng vẫn tồn tại. Nhiều người hay nhầm cây này với cây cứt lợn. Thật sự đây là một cái nhầm rất lớn. Cây cứt lợn họ vòi voi vì có hoa như hình vòi con voi, giống này có thể làm thuốc chữa viêm xoang. Còn cây xuyến chi họ cúc, hoa trắng, điểm một chút nhụy vàng ở giữa. Thứ này có thể ăn như rau, khá ngon. Mùa đông tháng giá, đi trên cánh bãi trống trải ven sông, nhìn những vạt xuyến chi nở rộ, có lẽ cũng gợi lên trong lòng người chút mỹ cảm nào đó.
Trưởng bạ, là một chức sắc nhỏ trong làng chuyên theo dõi về đất đai, điền thổ thời phong kiến. Ở vùng này, xưa vẫn có tục gọi ghép tên của người nào đó với chức sắc hay học vị mà họ đạt được, ví dụ: Ông lý Lưu - vì ông Lưu đã làm lý trưởng. Hay cụ cử Chi - vì cụ ấy đỗ cử nhân. Ông ngoại tác giả, thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đi lính cho Pháp. Sang mãi mẫu quốc nấu bếp, nên sau này về làng, vẫn được gọi là cụ bếp Khoát, chắc thế.
Thật ra thì tác giả cũng không thuộc được mấy lời của hàng trăm bài hát quan họ, cùng bao nhiêu là làn điệu. Thế nên, người kể lại hai câu chuyện tình bi thảm nhất, trong khá nhiều câu chuyện tình dở dang, đã xảy ra hai bờ con sông Đuống, chỉ ghi lại đôi ba lời thơ của những bài quan họ, và đã lược bớt những từ đệm khi hát như: này a, hừ là, tình chung… Nếu ghi vào, thì bạn đọc không phải người vùng Kinh Bắc sẽ khó hiểu.
Dân ca quan họ, bản chất là một điệu hát huê tình. Nhiều người cho rằng do có tục lệ kết bạn hát với nhau suốt đời, không lấy nhau. Chồng đi hát với bạn hát nữ của mình. Vợ cũng chỉ đi hát với bạn hát nam. Thậm chí, bạn hát của vợ (hay chồng) đến chơi nhà, thì người chồng sẽ cùng làm cơm rượu tiếp khách rồi lánh đi để vợ ( hoặc chồng) mình tiếp rượu và hát với khách. Có lẽ, cái chất huê tình ở đấy mà ra. Nó sinh ra từ cái cảm giác, từ cái ẩn ức của tình cảm bị dồn nén, không được thỏa mãn. Ở vùng Kinh Bắc, chả ai lại đi hát với vợ hoặc chồng mình. Mà ngay cả thế gian này, người ta cũng đã thế: một khi hai người đã lấy nhau, đã thành vợ thành chồng, thì thường người ta chỉ hét lên với nhau nhiều hơn, chứ mấy đôi mà lại hát đối nhớ nhớ thương thương với nhau được?
1/2014
Đánh giá
Mục lục bài viết
Làng Ngọc cách làng Lãng con sông Thiên Đức. Xưa, bến đò Bình nối hai làng. Có ông chèo già và con đò gỗ vẫn bồng bềnh khuya sớm qua sông, mỗi khi có tiếng gọi đò ơi…
Người gửi / điện thoại
Dạ dày (bao tử) có chức năng gì trong cơ thể? Nó là nơi chứa thức ăn sau khi được nghiền nát bằng răng ở miệng rồi nuốt xuống.
Giải Nobel y học năm 2018 được trao cho hai giáo sư: Ngài James P. Allison (Mỹ) và Tasuku Honjo (Nhật Bản). Cho những phát kiến của họ về vai trò của hệ miễn dịch cơ thể trong việc điều trị căn bệnh ung thư.
Y văn cổ truyền đã đúc kết, “Thập nhân cửu trĩ”. Ấy là tổng kết trong nhân gian, cứ mười người thì có tới chín người bị mắc bệnh trĩ. Chỉ là nặng hay nhẹ, là trĩ nội hay trĩ ngoại mà thôi. Mà hình như trong thời hiện nay, xã hội càng hiện đại thì công việc bàn giấy ngồi lỳ bên máy tính, hay đứng cả ngày bên dây chuyền sản xuất càng nhiều thì càng làm cho căn bệnh này phổ biến và trầm trọng hơn.
Trăng máu - Tập truyện Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tập truyện: Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tác giả: Trần Thanh Cảnh
Người đọc: Thủy Tiên
Đập lúa đêm trăng - Tập truyện Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tập truyện: Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tác giả: Trần Thanh Cảnh
Người đọc: Thủy Tiên
Mặt Ma - Tập truyện Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tập truyện: Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tác giả: Trần Thanh Cảnh
Người đọc: Thủy Tiên
Buông - Tập truyện Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tập truyện: Mỹ Nhân Làng Ngọc
Tác giả: Trần Thanh Cảnh
Người đọc: Thủy Tiên
Trung đoàn 51 (E51) thành lập ngày 10/4/1968 tại Thái Thụy, Thái Bình giữa lúc cuộc chiến với Mỹ đang ác liệt. Trung đoàn có nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới bổ sung cho chiến trường...
Và ngày hôm nay 8/7, tác giả lại dành tình cảm và cảm xúc của mình cho những chữ ký và con dấu nhân dịp ra mắt bộ BOXSET 3 CUỐN SÁCH "Trần Thủ Độ - Trần Quốc Tuấn - Trần Nguyên Hãn". Sau chuỗi ngày nắng nóng gay gắt, Hà Nội hôm nay bỗng mát mẻ lạ thường, cảm tưởng như ông trời cũng thương mến, ủng hộ cho buổi ký tặng
Bạn nào muốn xem Dược sĩ chém về Bảo hiểm Y tế và các vấn đề liên quan trên sóng VOVTV, xin mời...